Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 62/2025/DS-PT

Ngày: 27-3-2025

“V/v thực hiện nghĩa vụ do

người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân

Các Thẩm phán tham gia: Ông Nguyễn Anh Ứng và ông Quách Trọng Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 15/2024/TLPT-DS ngày 27-02-2025 về việc “Thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk G'Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXPT-DS ngày 04-3-2025; quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2025 và thông báo mở lại phiên tòa số 25/TB-TDS ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, đối với các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, địa chỉ: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - có mặt

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Hoàng Văn Q, Luật sư Công ty L thuộc đoàn luật sư thành phố H, địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, Đắk Nông - có mặt

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1961, (có mặt), bà Trần Thị T1, sinh năm 1963, (vắng mặt); địa chỉ: B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

    Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Phạm Quốc H, sinh năm 1988; địa chỉ: Đường B, tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - có mặt

  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Nguyễn Minh K, sinh năm 1986; địa chỉ: Bon K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt
    2. Công ty B1, địa chỉ: Đường T, tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông

      Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Lê Hữu Đ, chức vụ: Trưởng phòng dịch vụ khách hàng - có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt

    3. Anh Lê Hải T2, địa chỉ: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.
    4. Chị Lữ Quỳnh N, sinh năm 1978; địa chỉ: Bon K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.
    5. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ G, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.
    6. Chị Phan Thị Thùy T4, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt
    7. Anh Trần Ngọc T5, địa chỉ: Bon K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.
    8. Anh Trần Văn B, địa chỉ: Đường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam - vắng mặt.
    9. Chị Phan Thị Thu H1, sinh năm 1995, anh Đỗ Viết T6, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A, thôn D, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng - vắng mặt
    10. Chị Lương Thị T7, sinh năm 1972; địa chỉ: B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn: Chị Trần Thị P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 7 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị P trình bày:

Giai đoạn từ tháng 7/2022 đến ngày 25-02-2023, chị P cho anh Nguyễn Duy P1 số căn cước công dân [...] (đã chết) vay tiền nhiều lần với tổng số tiền gốc 1.100.000.000 đồng (một tỷ một trăm triệu đồng); trong số tiền trên, trước ngày 25-02-2023 chị P nhiều lần chuyển khoản cho anh P1 vay tiền, do tin tưởng nên hai bên không thiết lập hợp đồng vay. Trong quá trình vay, anh P1 đã trả cho chị số tiền 433.460.000 đồng, sau khi trừ số tiền anh P1 trả, qua giao dịch chuyển khoản anh P1 còn nợ chị P số tiền 713.090.000 đồng, ngoài ra ngày 26-11-2022 và ngày 25-02-2023 anh P1 vay thêm một số tiền mặt cộng với số tiền còn nợ nên chị P và anh P1 thiết lập hợp đồng vay với số tiền là 1.100.000.000 đồng, thời hạn trả nợ trong vòng 15 ngày, kể từ ngày vay đồng thời các bên thống nhất huỷ toàn bộ các giấy vay trước đó; đến hẹn trả nợ ngày 10-3-2023 anh P1 không trả, ngày 25-5-2023 anh P1 bị tai nạn xe và đã chết.

Trong thời gian anh P1 còn sống, anh P1 có mua bảo hiểm nhân thọ của Công ty B1 -Chi nhánh Bảo Việt nhân thọ B1 theo hợp đồng ngày 18-12-2022. Bảo Việt nhân thọ B1 đã chi trả số tiền bảo hiểm cho hàng thừa kế thứ nhất của anh P1 là ông T, bà T1 số tiền 3.500.000.000 đồng nên chị khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Thanh T, bà Trần Thị T1 phải trả cho chị số tiền gốc 1.100.000.000 đồng và tiền lãi suất 10%/năm tính từ ngày 11-3-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Trong thời gian anh P1 còn sống, nhiều lần chị P đến đòi tiền, yêu cầu anh P1 trả khoản vay, nên ông T, bà T1 biết việc anh P1 nợ tiền; khi ông T nhận tiền bảo hiểm đã trả cho chị P số tiền 150.000.000 đồng.

Ngày 25-6-2024 chị P làm đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể xin rút đối với số tiền ông T, bà T1 đã trả 150.000.000 đồng; chỉ yêu cầu ông T, bà T1 trả số tiền gốc còn nợ là 950.000.000 đồng và lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết, chị P thay đổi yêu cầu tính lãi, cụ thể yêu cầu ông T, bà T1 trả lãi hai thời điểm, từ ngày 11-3-2023 đến ngày 20-7-2023 với mức 10%/năm x 1.100.000.000 đồng và từ 21-7-2023 đến ngày Toà án giải quyết với mức 10%/năm x 950.000.000 đồng.

- Ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Hoàng Văn Q trình bày: Thống nhất lời khai như nguyên đơn đã trình bày.

- Ý kiến bị đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày: Con trai ông là anh Nguyễn Duy P1 bị mất do tai nạn giao thông, khi mất anh P1 không để lại tài sản gì, sau khi anh P1 mất, ông được thông báo anh P1 có mua bảo hiểm của Công ty B1, ông đã nhận số tiền bảo hiểm 3,5 tỷ đồng, trong đó anh P1 mua một bảo hiểm trị giá 2,5 tỷ đồng và ông là người thụ hưởng, còn 01 tỷ đồng ông và vợ ông bà Trần Thị T1 được thừa kế.

Số tiền 3,5 tỷ đồng, trong đó 01 tỷ đồng ông thừa kế, ông đã trả cho Ngân hàng TMCP C chi nhánh Đ1 (V) số tiền 1.172.000.000 đồng để xoá thế chấp khoản tiền ông vay dùm cho anh P1 khi anh P1 còn sống để làm ăn; số tiền ông được thụ hưởng 2,5 tỷ, ông đã trả 600.000.000 đồng đối với khoản vay của anh Nguyễn Minh K; số tiền còn lại ông đã thanh toán các khoản nợ của anh P1 khi còn sống, trong đó đã trả cho chị P số tiền 150.000.000 đồng. Nay chị P yêu cầu ông và bà T1 trả số tiền còn nợ 950.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh ông không đồng ý, do ông không vay tiền từ chị P, số tiền nhận thừa kế ông đã chi trả hết và sau khi chết anh P1 không để lại tài sản gì.

- Ý kiến đại diện theo uỷ quyền của bị đơn anh Phạm Quốc H trình bày: Bị đơn không đồng ý với các khoản vay do nguyên đơn trình bày, đối với giấy vay do nguyên đơn cung cấp ngày 25-02-2023, do anh P1 đã chết nên không thể đối chất, yêu cầu nguyên đơn cung cấp các giấy vay tiền trước đó; đối với các giao dịch chuyển khoản chưa xác định là khoản tiền gì, nếu là tiền vay thì đây là hợp đồng không kỳ hạn nhưng nguyên đơn chưa thông báo cho bị đơn nên chưa đủ điều kiện khởi kiện; khoản tiền mặt giao ngày 25-02-2023 như nguyên đơn trình bày nhưng không có giấy tờ chứng minh, quá trình giao dịch chị Phiên chuyển K1 cho anh P1 số tiền 850.000.000 đồng, anh P1 đã trả 433.460.000 đồng; đối với số tiền 3,5 tỷ đồng ông T, bà T1 được nhận thông qua 2 hợp đồng bảo hiểm anh P1 mua thời điểm còn sống (trong đó có 2,5 tỷ đồng ông T là người được thụ hưởng) và số tiền 01 tỷ đồng, ông T, bà T1 được nhận thừa kế; toàn bộ khoản tiền trên ông T, bà T1 đã sử dụng vào mục đích chi trả các khoản nợ cho anh P1.

Do ông T, bà T1 đã thực hiện chi trả nhiều khoản tiền thay cho anh P1, số tiền chi, trả 3,8 tỷ đồng đã vượt quá số tiền nhận bảo hiểm; mặt khác số tiền ông T được chỉ định là người thụ hưởng không phải là di sản do người chết để lại theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự, việc giao khoản tiền 250.000.000 đồng là không có thật, mặt khác nội dung giấy vay ngày 25-02-2023 không thể hiện nội dung chốt công nợ; do đó đề nghị Toà án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh K trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Khi còn sống anh P1 có mượn của anh số tiền 600.000.000 đồng; sau khi anh P1 mất do tai nạn giao thông, ông T, bà T1 là bố mẹ của anh P1 có trả cho anh số tiền 500.000.000đ, số tiền còn lại do anh P1 đã chết nên anh không yêu cầu gì.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lữ Quỳnh N trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Trước đây chị cho anh Nguyễn Duy P1 vay số tiền 80.000.000đ; sau khi anh P1 bị tai nạn mất, ông T, bà T1 là bố mẹ anh P1 có liên hệ trả cho chị số tiền 30.000.000đ, ông T, bà T1 nhờ chị viết giấy biên nhận tiền; được biết số tiền ông T, bà T1 trả là số tiền bảo hiểm của anh P1 khi mất. Chữ viết, chữ ký trong giấy nhận tiền ngày 05-8-2023 là của chị. Do chị không yêu cầu, không liên quan gì nên đề nghị Toà án xét xử vắng mặt

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Ngọc T5 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Trước đây anh Nguyễn Duy P1 có vay của anh số tiền 350.000.000đ, sau khi anh P1 mất, ông T, bà T1 có liên hệ trả cho anh số tiền 350.000.000đ và anh có viết giấy biên nhận; được biết số tiền ông T, bà T1 đã trả cho anh là tiền bảo hiểm của anh P1 khi mất; do anh đã nhận đủ tiền nên không yêu cầu gì, đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Tháng 02/2023 anh Nguyễn Duy P1 vay của chị T3 số tiền 70.000.000đ; sau khi nghe anh P1 bị tại nạn chết, chị có nói lại với ông T, bà T1 biết sự việc; ông T hứa khi nào nhận tiền bảo hiểm sẽ trả số tiền trên; tháng 8 năm 2023 gia đình ông T đã trả lại số tiền trên; do chị không liên quan gì nên đề nghị Toà án không xem xét những vấn đề liên quan đến gia đình ông T.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Thùy T4 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Thời gian trước đây chị cho anh Nguyễn Duy P1 vay số tiền mặt 100.000.000đ, khi vay anh P1 có viết giấy vay; sau đó chưa trả tiền thì anh P1 bị tai nạn; sau khi anh P1 chết, ông T, bà T1 có nhận tiền bảo hiểm và đã trả cho chị số tiền 40.000.000đ; còn lại 60.000.000đ chưa trả. Do không liên quan đến việc khởi kiện tại Toà án và bận công việc nên chị đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn B trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Trước đây anh Nguyễn Duy P1 có mượn của anh số tiền 1.500.000.000 đồng, sau khi anh P1 mất do tai nạn giao thông, ông Nguyễn Thanh T, bà Nguyễn Thị T8 trả cho anh số tiền 500.000.000 đồng; số tiền còn lại anh không yêu cầu trong vụ án. Khi còn sống anh biết anh P1 có tham gia hai hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại B; số tiền ông T, bà T8 trả cho anh là số tiền công ty bảo hiểm bồi thường cho người thụ hưởng là ông T, bà T8 theo hợp đồng đã ký kết với anh P1.

Do bận công việc và ở xa nên anh không tham gia các buổi làm việc và tham gia xét xử tại toà án nên anh xin giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lương Thị T7 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Khoảng tháng 10, tháng 11 năm 2022, anh P1 đến liên hệ vay tiền, mục đích vay để đáo hạn ngân hàng, do ở gần nhà anh P1 nên chị cho anh P1 vay số tiền 200.000.000 đồng; khi vay anh P1 có viết giấy vay, có chữ ký của anh P1, anh P1 hẹn trả số tiền vay trong thời hạn 01 tháng; đến hẹn nhưng anh P1 không trả, chị liên hệ điện thoại nhưng anh P1 không nghe máy, sau đó anh P1 có liên hệ xin trả dần. Một thời gian sau thì anh P1 bị tai nạn chết, sau đó ông T có trả cho chị số tiền 100.000.000 đồng; số tiền ông T trả cho chị sau thời điểm được công ty bảo hiểm chi trả cho ông T, do khi còn sống anh P1 có tham gia bảo hiểm; một thời gian sau ông T liên hệ nhờ chị phô tô giấy biên nhận trả tiền; số tiền ông T trả được bà T8 cung cấp thông tin do mới nhận tiền bảo hiểm. Do bận công việc nên chị đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Viết T6, chị Phan Thị Thu H1 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Khi anh P1 còn sống có vay của anh T6, chị H1 số tiền 1.500.000.000 đồng, mục đích vay để đáo hạn ngân hàng; khi vay có lập giấy vay, thời hạn vay anh T6, chị H1 không nhớ rõ. Khi còn sống anh P1 chưa trả khoản tiền này. Sau khi anh P1 chết, bố mẹ anh P1, ông T, bà T8 có liên hệ và trả số tiền 600.000.000 đồng vào ngày 14-8-2023; khi nhận tiền có lập giấy biên nhận, số tiền còn lại gia đình ông T xin trả dần tuy nhiên đến nay chưa trả thêm khoản nào.

Thời điểm trả tiền, ông T, bà T8 và anh K cung cấp thông tin nguồn tiền trả do được nhận từ bảo hiểm chi trả; do không tham gia giải quyết tại Toà án nên anh T6, chị H1 làm đơn đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Hữu Đ trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Anh Nguyễn Duy P1 có tham gia 02 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại Công ty B1, gồm Hợp đồng số 10000010285335, hiệu lực ngày 20-10-2022, số phí định kỳ đóng mỗi năm 20.461.996 đồng và hợp đồng số 10000010684758, hiệu lực ngày 18-12-2022, số phí định kỳ đóng mỗi năm 26.409.954 đồng.

Ngày 25-5-2023, anh P1 tử vong trong vụ việc vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại thôn F, xã Đ, Đ, Đắk Nông. B1 đang trong quá trình xác minh vụ việc để giải quyết chi trả quyền lợi bảo hiểm, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định; khi có thông tin từ Toà án, B1 sẽ trả lời thông tin bằng văn bản. Do không liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án nên anh Đ làm đơn đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Hải T2 trong đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Hiện nay vợ anh chị Trần Thị P đang khởi kiện, yêu cầu Toà án buộc ông T, bà T8 có nghĩa vụ trả khoản nợ đã vay của gia đình, anh đã có bản khai cung cấp cho Toà án, do bận việc gia đình nên đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 16-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk G'Long đã căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 Điều 470; các Điều 611, 612, 613, 614, 615 của Bộ luật Dân sự; khoản 26, Điều 4 Luật Kinh doanh bảo kiểm năm 2022; khoản 1, 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị P đối với ông Nguyễn Thanh T, bà Trần Thị T1 về việc buộc ông T, bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ gốc thay anh Nguyễn Duy P1 950.000.000đ và tiền lãi phát sinh 149.194.444 đồng

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền đã rút 150.000.000đ. Nguyên đơn có quyền khởi kiện đối với yêu cầu đã rút theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Chị Trần Thị P đề nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Sau khi nêu nội dung, đánh giá chứng cứ đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 16-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk G'Long, chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm Viện kiểm sát, đối chiếu quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị P nộp trong thời hạn luật định nhưng chậm nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm quá hạn 05 ngày. Tuy nhiên, việc nộp chậm là do nguyên nhân khách quan và đã được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk G'Long chấp nhận thu tiền theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008680 ngày 04/12/2024. Do đó, tại quyết định số 10/2024/QĐ-PT ngày 20/12/2024 của TAND tỉnh Đắk Nông đã chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của chị P, nên vụ án sẽ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

    Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk G'Long có quyết định kháng nghị đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm xét xử ngày 16/9/2024, tuy nhiên theo dấu công văn đến thì Tòa án nhân dân tỉnh nhận được quyết định kháng nghị là ngày 05/10/2024. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì thời hạn kháng nghị đã hết nên HĐXX không xem xét kháng nghị số 421/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk G'Long.

  2. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn:
    1. Về chứng cứ, tài liệu do nguyên đơn cung cấp: Nguyên đơn chị Trần Thị P cung cấp cho Tòa án giấy vay tiền đề ngày 25-02-2023, thể hiện nội dung anh P1 vay chị P số tiền 1 tỷ 100 triệu đồng, hẹn trong vòng 15 ngày anh P1 sẽ trả.

      Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Thanh T không thừa nhận chữ viết và chữ ký trên giấy vay tiền trên là của anh P1, nguyên đơn yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục giám định chữ ký và chữ viết của anh P1. Cấp phúc thẩm thấy cấp sơ thẩm cần thiết phải giải thích và lấy ý kiến của các đương sự có yêu cầu giám định chữ viết và chữ ký của anh P1 trên giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp hay không, trường hợp có yêu cầu, cần thực thực hiện thủ tục trưng cầu giám định theo quy định, để từ đó giải quyết triệt để vụ án.

    2. Về di sản thừa kế: Cấp sơ thẩm chỉ công nhận số tiền 1 tỷ được chi trả theo hợp đồng bảo hiểm số 10000010285335 là di sản thừa kế, còn số tiền 2,5 tỷ được chi trả theo hợp đồng bảo hiểm số 10000010684758 không phải là di sản thừa kế vì căn cứ vào khoản 26, điều 4 Luật kinh doanh bảo hiểm, ông T là người được chỉ định thụ hưởng. Việc cấp sơ thẩm viện dẫn Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 là không đúng, vì vào thời điểm các bên giao kết hợp đồng, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 chưa có hiệu lực pháp luật, mà cần phải căn cứ vào các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2010 và các quy định pháp luật có liên quan đang có hiệu lực tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng để áp dụng mới đúng. Ngoài ra cấp sơ thẩm chưa đánh giá làm rõ người thụ hưởng theo hợp đồng đã ký kết là như thế nào.
    3. Về phạm vi di sản thừa kế: Cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc ngoài các khoản tiền do Công ty B1 chi trả cho ông T, bà T1 khi anh P1 chết, thì có người gây ra tai nạn cho anh P1 hay không; họ có khắc phục hậu quả, bồi thường gì cho ông T, bà T1 hay không, nếu có thì gồm những khoản nào..., để từ đó xác định đúng phạm vi di sản thừa kế của anh P1 để lại.
    4. Về việc trả các khoản nợ cho Ngân hàng và các cá nhân của bị đơn: Cấp sơ thẩm nhận định ông T, bà T1 đã thực hiện trả nợ hơn 3,3 tỷ đồng, trong đó trả nợ cho Ngân hàng TMCP C chi nhánh Đ2 số tiền 01 tỷ 172 triệu đồng, trả nợ cho anh Nguyễn Minh K số tiền 500 triệu đồng, trả cho chị Lữ Quỳnh N số tiền 30 triệu đồng, trả cho anh Trần Ngọc T5 số tiền 350 triệu đồng, trả cho chị Nguyễn Thị T3 số tiền 70 triệu đồng, trả cho chị Phan Thị Thùy T4 số tiền 40 triệu đồng, trả cho anh Trần Văn B số tiền 500 triệu đồng, trả cho chị Lương Thị T7 số tiền 100 triệu đồng, trả cho anh Đỗ Viết T6 và chị Phan Thị Thu H1 số tiền 600 triệu đồng. Hiện nay di sản thừa kế không còn, do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

      Nhận định như trên của cấp sơ thẩm là chưa đủ căn cứ vì cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc sử dụng tiền vay vốn của ngân hàng TMCP C của ông T bà T1 như thế nào, trong khi hợp đồng vay tín dụng đứng tên ông T, bà T1, không có tên anh P1; đối với các nhân khác, tài liệu chứng cứ chỉ là các giấy xác nhận trả nợ của ông T, bà T1 cung cấp, trong khi cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh giữa anh P1 và những cá nhân trên có hợp đồng vay nợ tiền hay không. Trường hợp không chứng minh được thì không chấp nhận việc trả nợ trên của ông T, bà T1 là trả nợ thay cho anh P1, không được trừ vào di sản thừa kế của anh P1 để lại.

  3. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là phù hợp với nhận định của HĐXX, nên HĐXX chấp nhận.
  4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét, quyết định khi vụ án được giải quyết lại.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên nguyên đơn không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp cho nguyên đơn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự:

  1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 16-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông. Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Đắk G'Long giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét, quyết định khi vụ án được giải quyết lại.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Trần Thị P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho chị Trần Thị P 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0008680 ngày 04/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao TP HCM;
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
  • - TAND huyện Đắk G'Long;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk G'Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: THCTP, Tòa DS, HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Dương Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/DS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

  • Số bản án: 62/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger