|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2025/HS-ST
Ngày 26-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân H - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Võ Công Tuấn A, sinh năm 1995 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn R, sinh năm 1974 và bà Thạch Q, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 04/7/2024, bị bắt giữ khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố B) cho đến nay; có mặt.
2. Đào Hồng L, sinh năm 1998 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi thường trú: Số C, khóm E, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Khu phố G, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Hồng D (đã chết) và bà Khưu Thị Lan H1, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 14/4/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 236/2016/HSST.
- Ngày 01/11/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự đối với hành vi xảy ra ngày 13/4/2024.
Ngày 04/7/2024, bị bắt giữ khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố B) cho đến nay; có mặt.
3. Trương Hoài T, sinh năm 2001 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở: Khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hồng V (đã chết) và bà Lê Thị G, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 04/7/2024, bị bắt giữ khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố B) cho đến nay; có mặt.
4. Lê Trường G1, sinh năm 2000 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng T1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 04/7/2024, bị bắt giữ khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố B) cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Bùi Thanh B, sinh năm 1995; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: Số A đường K, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Lê Trường G1, Trương Hoài T, Bùi Thanh B là bạn bè và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 20 giờ ngày 01/7/2024, G1 đến phòng số 5, nhà T, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương của Tuấn A chơi và ở lại. Đến 23 giờ ngày 02/7/2024, T và L cũng đến phòng của Tuấn A chơi và ở lại. Đến khoảng 10 giờ ngày 03/7/2024, B đến phòng Tuấn A. Khi Tuấn A, L, G1, T và B ngồi nói chuyện được một lúc thì Tuấn A rủ mọi người hùn tiền để mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng thì tất cả đồng ý, riêng B không có tiền nên không đồng ý hùn tiền, lúc này Tuấn A, G1, L, T góp mỗi người 50.000 đồng, đưa cho Tuấn A giữ và gọi zalo cho người bán ma túy tên Đ hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, hỏi mượn 01 nỏ sử dụng ma túy và hẹn giao tại phòng trọ của Tuấn A.
Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Đ đến trước phòng trọ của Tuấn A giao 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá cho Tuấn A và nhận 200.000 đồng. Sau khi lấy được ma túy và nỏ, Tuấn A rủ L, T, G1, B cùng lên gác phòng trọ số 05, để sử dụng. Tuấn A lấy nỏ gắn vào bình nước và ống hút có sẵn trên gác rồi T dùng kéo cắt ma túy đổ vào trong bộ dụng cụ sử dụng, tất cả cùng nhau sử dụng cho đến khi hết ma túy. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường T đến kiểm tra hành chính phát hiện trên gác phòng trọ số 05 có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản và đưa tất cả về làm việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1 tại Công an phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương cùng ngày 03/7/2024, cho kết luận: Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1 đều dương tính với chất ma túy MET-Methaphetamin.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 14/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 14/3/2025.
Tại phần tranh luận:
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát theo Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 14/3/2025 đối với các bị cáo Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1.
Xử phạt bị cáo Võ Công Tuấn A từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
Xử phạt bị cáo Đào Hồng L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
Xử phạt bị cáo Trương Hoài T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lê Trường G1 từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/7/2024 tại phòng trọ số E, nhà T, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Võ Công Tuấn A có hành vi rủ rê các bị cáo Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1 hùn tiền mua ma túy về sử dụng, bị cáo Tuấn A là người trực tiếp liên hệ với đối tượng tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine), mượn nỏ sử dụng ma túy và trực tiếp lấy nỏ gắn vào bình nước và ống hút có sẵn trên gác để bị cáo T đổ ma túy vào trong bộ dụng cụ cho Tuấn A, L, T, G1, B cùng nhau sử dụng hết.
Hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 14/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà các bị cáo tổ chức sử dụng là Methamphetamine, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn tổ chức sử dụng ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì vẫn còn những người bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội mà cố tình thực hiện. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Các bị cáo Võ Công Tuấn A, Trương Hoài T và Lê Trường G1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo Đào Hồng L đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự vào ngày 01/11/2024.
- Về tính chất đồng phạm: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo Võ Công Tuấn A có vai trò chính, đã dùng chỗ ở của mình, hùn tiền với các bị cáo khác mua ma túy về và rủ Bùi Thanh B thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét xử lý các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4] Căn cứ tính chất mức độ, hậu quả của hành vi mà các bị cáo thực hiện cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Đối với đối tượng Bùi Thanh B, do không hùn tiền mua ma túy và cũng không có hành vi giúp sức cho việc sử dụng ma túy của các bị cáo Tuấn A, L, T, G1 nên không có cơ sở xử lý hình sự là có căn cứ. Qua test nhanh của Bùi Thanh B cho kết quả dương tính chất ma túy nên ngày 26/01/2025, Công an thành phố B ra Quyết định xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong.
[7] Đối với đối tượng tên Đ bán ma túy cho Tuấn A, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục, xác minh làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau là có căn cứ.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1.
Xử phạt bị cáo Võ Công Tuấn A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 04/7/2024.
Xử phạt bị cáo Đào Hồng L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 04/7/2024.
Xử phạt bị cáo Trương Hoài T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 04/7/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Trường G1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 04/7/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
(Vật chứng được thể tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Võ Công Tuấn A, Đào Hồng L, Trương Hoài T và Lê Trường G1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 62/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Tuấn A và đồng phạm phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
