Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-3-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Chánh.
  2. Bà Lê Thị Ngọc Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2694/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 86/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh D, sinh năm 1994;

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Nguyên K, sinh năm 1991;

Địa chỉ: tổ A, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà D có đơn xin vắng mặt, ông K vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Thanh D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Nguyên K đã đăng ký kết hôn ngày 18/01/2016 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 298/2016 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Hôn nhân tự nguyện, vợ chồng sống hạnh phúc trong thời gian đầu kết hôn nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong quá trình sinh sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong đời sống cũng như cách nuôi dạy con cái. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải và được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng vẫn không giải quyết được những mâu thuẫn. Hai vợ chồng đã ly thân được hơn một năm nay.

Nay, vợ chồng không còn dành tình cảm cho nhau, mâu thuẫn nghiêm trọng, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên không thể tiếp tục sống chung với nhau. Vì vậy, bà làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lê Nguyên K.

Về con chung: Bà và ông K có hai con chung là: Lê Trần Khánh A, sinh ngày 12/9/2016 và cháu Lê Duy A1, sinh ngày 03/6/2020. Ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khánh A và đồng ý để ông K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Duy A1, cả hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lê Nguyên K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông K.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà D và ông K không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà D yêu cầu ly hôn với ông K là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Bà D và ông K có hai con chung là: Lê Trần Khánh A, sinh ngày 12/9/2016 và cháu Lê Duy A1, sinh ngày 03/6/2020. Giao cháu Khánh A cho bà D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Duy A1 cho ông K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời không ai cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông K nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà D phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Trần Thị Thanh D yêu cầu được ly hôn với ông Lê Nguyên K và giải quyết vấn đề con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Bà Trần Thị Thanh D là nguyên đơn, ông Lê Nguyên K là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Thanh D nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Lê Nguyên K có đăng ký thường trú tại địa chỉ tổ A, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Thanh D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lê Nguyên K đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông K theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh D và ông Lê Nguyên K đăng ký kết hôn ngày 18/01/2016 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 298/2016 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà D, vợ chồng sống hạnh phúc trong thời gian đầu kết hôn nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do trong quá trình sinh sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm trong đời sống cũng như cách nuôi dạy con cái. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải và được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng vẫn không giải quyết được những mâu thuẫn. Hai vợ chồng đã ly thân được hơn một năm nay. Nay bà D nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà D không còn tình cảm với ông K nên đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Lê Nguyên K.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông K đến Tòa làm việc nhưng ông K vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông K không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà D. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú ngày 03/01/2025 thì địa phương không nắm được mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông K do không trình báo. Giữa hai vợ chồng có hai người con chung, cháu lớn đang ở với bà D, cháu N đang ở với ông K. Hiện tại vợ chồng không còn sống chung.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà D và ông K là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D, giải quyết cho bà D được ly hôn với ông K để trả tự do cả hai là phù hợp.

[5] Về con chung: Bà D và ông K hai con chung là: Lê Trần Khánh A, sinh ngày 12/9/2016 và cháu Lê Duy A1, sinh ngày 03/6/2020. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khánh A và đồng ý để ông K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Duy A1, cả hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, ông D không đến Tòa làm việc nên không ghi nhận được ý kiến. Hiện nay, bà D đang làm nhân viên, thu nhập bình quân 9.000.000đ/tháng nên đủ điều kiện và khả năng để nuôi con. Cháu Khánh A hiện đang ở với mẹ và có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn nên giao cháu Khánh A cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Còn cháu Duy A1 hiện đang ở với bố nên giao cháu Khánh A cho ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm thời, không ai cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông K nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Bà D phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh D. Bà Trần Thị Thanh D được ly hôn với ông Lê Nguyên K.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Trần Khánh A, sinh ngày 12/9/2016 cho bà Trần Thị Thanh D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Giao cháu Lê Duy A1, sinh ngày 03/6/2020 cho ông Lê Nguyên K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời không ai cấp dưỡng nuôi con.

    Bà D và ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Trần Thị Thanh D phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004549 ngày 04/11/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
  • - VKS TP Biên Hoà;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vợ chồng mâu thuẫn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger