TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 62/2025/HS-ST. Ngày: 26-3-2025. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn, bà Nguyễn Thị Quy
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 13/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 20/02/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 136/2025/TB-TA ngày 19/3/2025 đối với:
- Các bị cáo gồm:
Hồ Minh T
– sinh năm 1995 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Văn Đ (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Hồng T1 - 1964; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Về nhân thân:
- Tại bản án số 134/2016/HSST ngày 26/10/2016 Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Quyết định xử phạt hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 21/3/2023 Công an huyện Đ xử phạt số tiền 3.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ đến ngày 23/8/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
Lê Phi L
– sinh năm 2003 tại An Giang.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Phi H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bé T2 - 1985; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Lê Hoàng G
– sinh năm 2005 tại An Giang.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ D, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Phi H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bé T2 - 1985; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Trần Văn L1
– sinh năm 2005 tại Cần Thơ.
Nơi đăng ký thường trú: KV T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú: Ấp D, xã L, huyện B, T3 phồ Hồ Chí M. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: (không xác định) và bà Trần Thị T4 - 1984; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Về nhân thân: Tại bản án số 102/2023/HSST ngày 10/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự (ngày 27/9/2023 đã chấp hành xong).
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Kim T5
– sinh năm 2003 tại Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp N, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Kim Kêl (đã chết) và bà Kim Thị S - 1985; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Sơn Thành H1
– sinh ngày 12/7/2006.
Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Kim M1 và bà Sơn Thị L2 (cha, mẹ: không rõ năm sinh); Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, đến ngày 20/8/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T bắt tạm giam về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T cho đến nay.
Nguyễn Thanh P
– sinh năm 2002 tại An Giang.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ D, ấp B, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh P1 -1978 và bà Tô Thị T6 - 1978; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Phạm Hoàng P2
– sinh năm 2002 tại Sóc Trăng.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Hoàng D -1975 và bà Trần Thị Kiều L3 (đã chết); Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Sơn Đ1
– sinh năm 2005 tại Sóc Trăng.
Nơi đăng ký thường trú: Khóm K, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sơn Đ - 1980 và bà Kim Thị Thu H2 - 1977; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Sơn L2
– sinh năm 2000 tại Sóc Trăng.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sơn Hồng Q -1978 và bà Trần Thị Phe N - 1981; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Sơn H3
– sinh năm 2003 tại Sóc Trăng.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sơn Hồng Q -1978 và bà Trần Thị Phe N - 1981; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Trần Thái H4
– sinh năm 2003 tại Kiên Giang.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
Nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M2 - 1975 và bà Trần Thị O - 1980; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Sơn Văn C
– sinh năm 2002 tại Cà Mau.
Nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Khơ me; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn Văn N1 - 1976 và bà Nguyễn Thị M3 - 1981; Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.
Lê Duy P3
– sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Số F, Tổ F, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn T7 (đã chết) và bà Lê Thị P4 - 1954; Vợ Đào Kim T8 – 1991; có 03 con chung nhỏ nhất sinh năm 2020,; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm:
+ Bà Trần Thị Ngọc N2 – sinh năm 1961.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh Q1 – 1969.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
+ Anh Trần Bá Đ2 – sinh năm 2008.
Đại diện hợp pháp: Ông Trần N3 – 1976, bà Tăng Thị K - 1979
Địa chỉ: Ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
+ Anh Lý Phước T9 – sinh năm 2010.
Đại diện hợp pháp: Ông Lý Phương N4 – 1991, bà Lê Thị Bích T10 - 1992
Địa chỉ: Ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
(các bị cáo và ông Q1 có mặt; anh Đ2, anh T9 và đại diện hợp pháp vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc T11 là bạn bè xã hội của T, khi biết nhóm Lâm C1 đánh T11 thì ngày 20/5/2024 T đã khởi xướng, rủ rê, lôi kéo một số thanh niên ở miền tây để thành lập nhóm và chuẩn bị hung khí để lên hỗn chiến với nhóm Lâm C1. Cụ thể T gọi điện cho T12 (không rõ lai lịch) để nhờ gom người, đồng thời T cũng điện thoại trực tiếp cho bị cáo L, G nhờ gom người lên đánh nhóm Lâm C1, chi phí đi lại, ăn uống Tuyên lo, về hung khí thì T có sẵn 01 dao, 01 kiếm ngoài ra T còn mua thêm 16 con dao ở
chợ rồi nhờ một người đàn ông (không rõ lai lịch) cắt, hàn thêm cán phi sắt. Sau đó G liên hệ và rủ rê bị cáo C, đối tượng T9 và Đ2, L liên hệ và rủ rê bị cáo T5, P và L1. Tiếp đó là bị cáo T5 liên hệ và rủ rê bị cáo H3, L2, P2 và H1, còn P thì rủ rê bị cáo H4, bị cáo H1 thì rủ thêm bị cáo Đ1 lên Định Quán giúp T đánh nhau với nhóm Lâm C1 thì mọi người đồng ý. Sau khi gom đủ người T12 liên hệ nhờ một người bạn (không rõ lai lịch) thuê giùm một chiếc xe chở nhóm của L lên huyện Đ, sau đó bị cáo P3 nhận được điện thoại đặt xe đến khu nhà trọ của L để đón khách lên huyện Đ.
Khoảng 17 giờ ngày 20/05/2024, sau khi nhóm của L gồm: L, H1, L1, G, Đ1, H3, L2, C, H4, P2, P, T5, Trần Bá Đ2 và Lý Phước T9 do P3 chở trên xe ô tô 16 chỗ đi từ tỉnh Long An đến đoạn cây xăng thuộc khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ thì liên hệ T ra đón. Lúc này T cùng T11, D1, T12 (chưa rõ lai lịch) điều khiển 01 xe bán tải đi đón nhóm L và dẫn cả nhóm lên thị trấn T để ăn tối, sau khi ăn xong T đưa cuộn băng keo màu vàng nói nhóm của L quấn vào hai bên tay để làm ký hiệu phân biệt nhóm mình và nhóm Lâm C1, tránh đánh nhầm. Lúc này bị cáo P3 (là tài xế xe hợp đồng chở thuê) biết việc nhóm T đi đánh nhau nhưng vẫn đồng ý chở cả nhóm đi đánh nhau và đồng ý để các bị cáo khác dùng băng keo dán che biển số xe ô tô do mình điều khiển để tránh phát hiện.
Sau đó T lên xe ô tô 16 chỗ đi cùng với xe của nhóm L và nói đi theo xe bán tải dẫn đường theo hướng về Đ, khi đi đến đoạn lô giả tỵ dừng xe, T đưa cho nhóm của L 04 con dao tự chế, 02 bình xịt hơi cay để chuẩn bị đánh nhau rồi T tiếp tục dẫn nhóm của L đi vào nghĩa địa Công giáo thuộc khu phố H, thị trấn Đ để bàn bạc việc đánh nhóm L1 và đưa hung khí là 12 cây dao cho những người còn lại. Sau khi nhận đầy đủ hung khí T và nhóm của L lên xe ô tô 16 chỗ đi đến điểm hẹn Ngã Tư Quốc T13 thuộc thị trấn Đ để chém nhau với nhóm Lâm C1, tuy nhiên khi xe mới đi đến khu vực Chợ C2 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe ô tô loại xe 16 chỗ ngồi biển số 62B- 010.74.
- 16 con dao tự chế, cán dao bằng ống tuýp sắt dài 1m, đường kính 3,4cm được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân ống, lưỡi dao bằng kim loại dài 35cm, mũi vuông, phần rộng nhất dài 5cm.
- 01 con dao tự chế, cán dao bằng tre dài 1,1m, đường kính 3,5cm, được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân tre, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, mũi nhọn, phần rộng nhất dài 6cm.
- 01 cây kiếm, cán kiếm dài 50cm, đường kính 3cm, được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân kiếm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 60cm, mũi nhọn, phần rộng nhất dài 4cm.
- 01 bình xịt hơi cay 110ml hiệu Nato Super, 01 bình xịt hơi cay loại tay cầm 470ml hiệu Take Down;
- 06 điện thoại di động các loại.
- Tiền mặt 1.700.000 đồng.
- 09 đoạn băng keo màu vàng, gồm: 02 đoạn kích thước 50cm, 01 đoạn kích thước 15cm, 02 đoạn kích thước 20cm, 02 đoạn kích thước 45cm, 02 đoạn được bện thành hình tròn đường kính 10cm.
Tại Cáo trạng số 374/CT-VKSÐQ, ngày 28/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt:
- Đối với bị cáo T và L1 áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt: Bị cáo Hồ Minh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; bị cáo Trần Văn L1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Đối với bị cáo L, G, T5, P, P2, Đ1, L2, H3, H4, Cu áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo H1 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 và Điều 101 Bộ luật Hình sự; bị cáo P3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt: bị cáo Lê Phi L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; bị cáo Sơn Thành H1, Lê Hoàng G, Phạm Hoàng P2, Kim T5, S, Sơn L2, Trần Thái H4, Nguyễn Thanh Pvà Sơn Văn Ctừ 10 tháng đến 12 tháng tù; bị cáo Lê Duy P3 từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách gấp đôi.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 04 điện thoại di động các loại gồm 01 điện thoại Samsung J6 của bị cáo G, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh của bị cáo P; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng không rõ loại và 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh của bị cáo P2.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 16 con dao tự chế, cán dao bằng ống tuýp sắt dài 1m, đường kính 3,4cm được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân ống, lưỡi dao bằng kim loại dài 35cm, mũi vuông, phần rộng nhất dài 5cm.
- + 01 con dao tự chế, cán dao bằng tre dài 1,1m, đường kính 3,5cm, được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân tre, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, mũi nhọn, phần rộng nhất dài 6cm.
- + 01 cây kiếm, cán kiếm dài 50cm, đường kính 3cm, được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân kiếm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 60cm, mũi nhọn, phần rộng nhất dài 4cm.
- + 01 bình xịt hơi cay 110ml hiệu Nato Super và 01 bình xịt hơi cay loại tay cầm 470ml hiệu T14.
- + 09 đoạn băng keo màu vàng gồm: (02 đoạn kích thước 50cm, 01 đoạn kích thước 15cm, 02 đoạn kích thước 20cm, 02 đoạn kích thước 45cm, 02 đoạn được bện thành hình tròn đường kính 10cm).
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện
kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến, không tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 21 giờ 25 phút ngày 20/05/2024 tại khu vực thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai bị cáo Hồ Minh T, Lê Phi L, Lê Hoàng G, Nguyễn Thanh P, Kim T5, Sơn Văn C, Sơn L2, Trần Văn L1, Phạm Hoàng P2, Sơn Đ1, Trần Thái H4, Sơn Thành H1, Sơn H3 cùng thành lập nhóm, bàn bạc, mang hung khí nguy hiểm gồm: 18 cây dao, kiếm các loại, 02 bình xịt hơi cay, băng keo màu vàng, cùng với sự giúp sức của bị cáo Lê Duy P3 điều khiển xe ô tô chở cả nhóm đến địa điểm hẹn tại ngã tư Q gần chợ C3 nhằm mục đích đánh nhau với nhóm Lâm Còi thì bị lực lượng Công an huyện Đ kịp thời phát hiện bắt quả tang, ngăn chặn hành vi hỗn chiến như trên.
Do đó hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Hồ Minh T, Trần Văn L1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo Lê Phi L, Lê Hoàng G, Nguyễn Thanh P, Kim T5, Sơn Văn C, Sơn L2, Phạm Hoàng P2, S, Trần Thái H4, Sơn Thành H1, S, Lê Duy P3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cáo Hênl tại thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi, bị cáo P3 có hoàn cảnh khó khăn, cậu ruột có công vói cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về nhân thân: Bị cáo Hồ Minh T, Trần Văn L1 có nhân thân xấu.
Đối với bị cáo L1 mặc dù ngày 10/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” tuy nhiên tại thời điểm bị
kết án về tội phạm ít nghiêm trọng L1 chưa đủ 18 tuổi nên không được coi là có án tích (theo Điều 107 Bộ luật hình sự).
[6] Về hình phạt: Hành vi thành lập băng nhóm, chuẩn bị phương tiện, hung khí nguy hiểm để đi hỗn chiến nhằm gây thương tích cho người khác của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, an ninh tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm để cá thể hóa hình phạt cần đánh giá vai trò, nhân thân của các bị cáo như sau: Đối với bị cáo T bản thân có nhân thân xấu nhưng lại là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác nhằm lập nhóm và chuẩn bị hung khí nguy hiểm để thực hiện hành vi do đó mức hình phạt cao nhất. Đối với bị cáo L, G, T5, P, H1 có vai trò giúp sức tích cực trong việc rủ rê, lôi kéo lập nhóm giúp T, bị cáo L1 bản thân có nhân thân xấu nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nên mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Đối với bị cáo H3, L2, Đ1, C, H4 và P2 tuy không rủ rê lôi kéo ai nhưng đóng vai trò giúp sức tích cực nên hình phạt nghiêm khắc nhưng thấp hơn những bị cáo trên. Tuy nhiên bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Riêng bị cáo P3 là tài xế có vai trò giúp sức thứ yếu, tại thời điểm biết các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng vẫn đồng ý tiếp tục điều khiển xe chở các bị cáo đến điểm hẹn do đó mức hình phạt thấp nhất, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có đơn xác nhận là lao động duy nhất, hoàn cảnh khó khăn của chính quyền nơi cư trú do đó không cần thiết bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền nơi cư trú giám sát, giao dục cũng đủ răn đe và thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
[7] Về vật chứng vụ án:
- Đối với 16 con dao tự chế có đặc điểm cán dao bằng ống tuýp sắt dài 1m, đường kính 3,4cm được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân ống, lưỡi dao bằng kim loại dài 35cm, mũi vuông, phần rộng nhất dài 5cm; 01 con dao tự chế có đặc điểm cán dao bằng tre dài 1,1m, đường kính 3,5cm, được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân tre, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, mũi nhọn, phần rộng nhất dài 6cm và 01 cây kiếm có đặc điểm cán kiếm dài 50cm, đường kính 3cm, được cuốn vải xanh dài 40cm trên thân kiếm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 60cm, mũi nhọn, phần rộng nhất dài 4cm; 01 bình xịt hơi cay 110ml hiệu Nato Super; 01 bình xịt hơi cay loại tay cầm 470ml hiệu Take Down và 09 đoạn băng keo màu vàng là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 04 điện thoại di động thu giữ của bị cáo G, P và P2 dùng vào mục đích liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Tiền mặt 1.700.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thái H4, quá trình điều tra xác định số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định nên không xem xét.
- Đối với xe ô tô biển số 62B- 010.74 thuộc sở hữu của bà Trần Thị Ngọc N2 vào ngày 20/5/2024 bị cáo P3 (tài xế hợp đồng) điều khiển, quá trình điều tra xác định bà N2 không biết bị cáo sử dụng để đi gây án nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe cho chủ sở hữu là đúng quy định nên không xem xét.
- Đối với 02 điện thoại thu giữ của của bị cáo P3 và H4 quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định nên không xem xét.
[8] Về vấn đề khác:
- Đối với Lý Phước T9 sinh ngày 17/3/2010 và Trần Bá Đ2 sinh ngày 26/08/2008 taị thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 20/05/2024) chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định nên không xem xét.
- Đối với Phan Đình L4, Phạm Minh L5 và Phạm Quốc T11 sau sự việc đã bỏ trốn khỏi địa phương, chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Đối với các đối tượng D1, T12 và Phi Công quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Minh T, Lê Phi L, Lê Hoàng G, Trần Văn L1, Kim T5, Sơn Thành H1, Nguyễn Thanh P, Phạm Hoàng P2, S, Sơn L2, S, Trần Thái H4,Sơn Văn CvàLê Duy P3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2025, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến ngày 23/8/2024.
Áp dụng khoản 2 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự ra lệnh bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L1 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Sơn Thành H1 được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 và Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Phi L 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng G 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Kim T5 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Sơn Thành H1 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024 được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/5/2024.
Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng P2 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo S1 Đi 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Sơn L2 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Sơn H3 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Trần Thái H4 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Xử phạt bị cáo Sơn Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Lê Duy P3 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 17 con dao tự chế và 01 cây kiếm; 02 bình xịt hơi cay; 09 đoạn băng keo.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 04 điện thoại di động.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi nhận tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2024 và hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà N2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với anh Đ2, anh T9 và người đại diện hợp pháp được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền Trang |
Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 62/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: số 62 ngày 26.3.2025 Hồ Minh T và đồng phạm