Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 62/2025/HS-ST

Ngày 13-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Văn Dược

2. Bà Tống Thị Điệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thái S; Sinh ngày 18 tháng 8 năm 1994 tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi thường trú: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi ở hiện nay: 142/42/2 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sửa xe máy; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1971 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1972; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 22/12/2015, Nguyễn Thái S bị Công an phường T, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bằng hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 16/12/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Lương Tuấn A – Sinh năm: 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bà Nguyễn Minh C – Sinh năm: 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: 7 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

3. Bà Nguyễn Thị T – Sinh năm: 1972 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

4. Ông Nguyễn Văn H – Sinh năm: 1971 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người chứng kiến:

1. Ông Đặng Công C1 – Sinh năm: 1960 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Ông Lê Phước T1 – Sinh năm: 1963 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thái S là người sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá và hành nghề sửa chữa xe mô tô tại nhà ở địa chỉ: 1 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Thông qua mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, S quen biết người nam giới có tên thường gọi là Ti M (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) bán ma túy nên ngày 14/12/2024 và ngày 16/12/2024, S đã 02 lần mua ma túy của Ti Man về để sử dụng, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 12 giờ ngày 14/12/2024, Nguyễn Thái S sử dụng điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh, gắn sim số 0826422220 gọi đến số điện thoại 0905.331.xxx của Ti M hỏi mua 01 gói ma tuý đá với số tiền 400.000 đồng, thì T4 đồng ý bán và hẹn giao ma tuý tại khu vực ngã tư đường T giao với đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, S một mình điều khiển xe mô tô ( xe mô tô do khách mang đến sửa chữa, chưa xác định được loại xe và biển số) đi đến điểm hẹn để mua ma tuý. Tại đây, S gặp và trả số tiền 400.000 đồng cho một người nữ giới (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) thì được người này bán cho S 01 gói ma tuý đá. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu vào trong người rồi mang về chỗ ở tại 142/42/2 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk sử dụng một phần, số còn lại cất giấu tại phòng ngủ mục đích để sử dụng.

Lần 2: Khoảng 14 giờ 30 ngày 16/12/2024, Nguyễn Thái S tiếp tục sử dụng số điện thoại 0826.422.xxx gọi đến số 0905331337 của Ti M hỏi mua 01 gói ma tuý đá với số tiền 400.000 đồng, thì T4 đồng ý bán và tiếp tục hẹn giao dịch mua bán ma tuý tại khu vực ngã tư đường T giao với đường T, phường T, thành phố B. Sau đó, S một mình điều khiển xe mô tô màu đỏ, biển số 47B2-004.58 đi đến điểm hẹn để mua ma tuý. Tại đây, S gặp, trả số tiền 400.000 đồng cho một người nữ giới (là người bán ma tuý cho S ở lần 1) thì người này bán cho S 01 gói ma tuý đá. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu vào trong người rồi đi về chỗ ở tại địa chỉ: 1 Y, phường T, thành phố B thì bị Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang, tạm giữ trên người S 01 gói nylon hình chữ nhật chứa ma tuý kích thước (2,9 x1,5) cm. Ngoài ra, S còn tự nguyện chỉ số ma tuý mua ngày 14/12/2024 còn lại trong 01 gói nylon vát một đầu, kích thước (3,2x1,3) cm, được cất giấu trên phòng ngủ của S. Cơ quan điều tra đã tạm giữ và niêm phong vật chứng liên quan theo quy định của pháp luật.

* Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy tại Bệnh viện đa khoa thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xác định Nguyễn Thái Sơn dương T2 với chất ma túy, loại Amphetamine (AMP), Methamphetamine.

* Tại Bản Kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong có 01 gói nylon hình chữ nhật, kích thước (2,9 x1,5) cm được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,2210 gam;
  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon vát một đầu, kích thước (3,2x1,3) cm được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,1204 gam.

H1 lại đối tượng gửi giám định gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định bên trong gói nylon hình chữ nhật, kích thước (2,9x1,5) cm có khối lượng 0,1940 gam; bên trong gói nylon vát một đầu, kích thước (3,2x1,3) cm có khối lượng 0,0930 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định an đầu.

* Tại bản Kết luận giám định số: 75/KL-KTHS ngày 03/01/2025, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: 01 xe mô tô, biển số 47B2-004.58 là biển số thật, số khung: RP8M82100GV045368, số máy: M821M5045363, đều không thay đổi.

Cáo trạng số 58/CT-VKS-HS ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thái S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thái S thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và đúng theo nội dung bản cáo trạng đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái S từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy đối với: Mẫu vật còn lại sau giám định bên trong gói nylon hình chữ nhật, kích thước (2,9 x 1,5) cm có khối lượng 0,1940 gam; bên trong gói nylon vát đầu, có kích thước (3,2 x 1,3) cm có khối lượng 0,0930 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Thái S - BMT”, số 14/KL-KTHS và có các chữ ký ghi tên Hà Minh H2, Lê Khắc N và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0826422220, số I: 866451064828039, quá trình điều tra xác định: Chiếc điện thoại là tài sản của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe mô tô màu đỏ, nhãn hiệu PIAGGIO VESPA, biển số 47B2-004.58, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô do chị Nguyễn Minh C là chủ sở hữu. Ngày 16/12/2024, chị C mang chiếc xe mô tô trên giao cho anh Nguyễn Lương Tuấn A để sửa chữa, sau đó anh Tuấn A nhờ bị cáo S sửa chữa chiếc xe mô tô. Việc bị cáo Nguyễn Thái S sử dụng chiếc xe mô tô biển số 47B2-004.58 vào việc phạm tội thì chị C và anh Tuấn A không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với chị C và anh Tuấn A, đồng thời quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe mô tô cho chị C nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.

Các nội dung khác:

Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì trước đó Nguyễn Thái S còn nhiều lần mua ma túy để sử dụng nhưng S đã sử dụng hết ma túy, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với việc Nguyễn Thái S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” theo quy định tại Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là phù hợp.

Đối với người nam giới có tên thường gọi là “Ti Man” sử dụng số điện thoại 0905.331.xxx và người nữ giới giao ma túy cho Nguyễn Thái S, Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Tổng công ty V, yêu cầu cung cấp thông tin nhân thân lai lịch của chủ số thuê bao 00905331337, nhưng đến nay Cơ quan điều tra chưa nhận được công văn trả lời. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định nhân thân, lai lịch của các đối tượng này, nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với căn nhà tại địa chỉ: 1 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, mà bị cáo Nguyễn Thái S cất giấu ma túy, quá trình điều tra xác định: Căn nhà do bà Trần Thị K đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2016, bà K cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T (là bố, mẹ bị cáo) một phần đất rồi làm nhà nhưng chưa chuyển quyền sử dụng đất. Việc bị cáo cất giấu, sử dụng ma túy tại căn nhà trên thì ông H, bà T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với ông H, bà T, là có căn cứ.

Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận; bị cáo không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào ngày 14/12/2024 và ngày 16/12/2024, tại địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thái S đã 02 lần thực hiện hành vi mua 02 gói ma túy, với tổng khối lượng là 0,3414 gam ma túy, loại Methamphetamine với tổng số tiền là 800.000 đồng, rồi cất giấu, mục đích để sử dụng (trong đó: lần 1 S tàng trữ vào ngày 14/12/2024 là 0,1204 gam và lần 2 Sơn tàng trữ vào ngày 16/12/2024 là 0,2210 gam) thì bị bắt quả tang và tạm giữ vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thái S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)...

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a)...

b) Phạm tội 02 lần trở lên.”

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, nguyên nhân gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm hủy hoại sức khỏe con người, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Vì vậy, bị cáo hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự thú về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trước đó. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với Mẫu vật còn lại sau giám định bên trong gói nylon hình chữ nhật, kích thước (2,9 x 1,5) cm có khối lượng 0,1940 gam; bên trong gói nylon vát đầu, có kích thước (3,2 x 1,3) cm có khối lượng 0,0930 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Thái S - BMT”, số 14/KL-KTHS và có các chữ ký ghi tên Hà Minh H2, Lê Khắc N và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ, là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0826422220, số Imeil: 866451064828039 của bị cáo Nguyễn Thái S, quá trình điều tra xác định: Chiếc điện thoại là tài sản của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe mô tô màu đỏ, nhãn hiệu PIAGGIO VESPA, biển số 47B2-004.58, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô do chị Nguyễn Minh C là chủ sở hữu. Chị C đưa xe cho anh Nguyễn Lương Tuấn A đi sửa xe. Việc bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội thì chị C, anh Tuấn A không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với chị C và anh Tuấn A, đồng thời quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe mô tô cho chị C nhận quản lý, sử dụng là phù hợp

[6] Các nội dung khác:

Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì trước đó Nguyễn Thái S còn nhiều lần mua ma túy để sử dụng nhưng S đã sử dụng hết ma túy, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với việc Nguyễn Thái S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” theo quy định tại Điều 23, nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là phù hợp.

Đối với người nam giới có tên thường gọi là “Ti Man” sử dụng số điện thoại 0905.331.xxx và người nữ giới giao ma túy cho Nguyễn Thái S, Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Tổng công ty V, yêu cầu cung cấp thông tin nhân thân lai lịch của chủ số thuê bao 00905331337, nhưng đến nay Cơ quan điều tra chưa nhận được công văn trả lời. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định nhân thân, lai lịch của các đối tượng này, nên tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với căn nhà tại địa chỉ: 1 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, mà bị cáo Nguyễn Thái S1 giấu ma túy, quá trình điều tra xác định: Căn nhà do bà Trần Thị K (là bà nội của bị cáo) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2016, bà K cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T, đều trú tại: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (là bố, mẹ bị cáo) một phần đất rồi làm nhà nhưng chưa chuyển quyền sử dụng đất. Việc bị cáo cất giấu, sử dụng ma túy tại căn nhà trên thì ông H, bà T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với ông H, bà T, là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái S 06 (S2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2024.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định bên trong gói nylon hình chữ nhật, kích thước (2,9 x 1,5) cm có khối lượng 0,1940 gam; bên trong gói nylon vát đầu, có kích thước (3,2 x 1,3) cm có khối lượng 0,0930 gam và toàn bộ bao gói, đồ vật đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Thái S - BMT”, số 14/KL-KTHS và có các chữ ký ghi tên Hà Minh H2, Lê Khắc N và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K1 Công an tỉnh Đ.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu xanh, gắn sim số 0826422220, số Imeil: 866451064828039 của bị cáo Nguyễn Thái S.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/02/2025 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Nguyễn Minh C 01 (Một) chiếc xe mô tô màu đỏ, nhãn hiệu PIAGGIO VESPA, biển số 47B2-004.58, số khung RP8M82100GV045368, số máy: M821M5045363.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thái S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (PV06);
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái S "tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger