Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-3-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐ-ST ngày 10/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: Khu dân cư M, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

    Địa chỉ: 0 Aleja Krakowska F.4M.1, quận L, tỉnh Mazowieckie, Cộng hòa B.

    Chị H ủy quyền cho anh Trần Văn Đ, sinh năm 1987; Nơi thường trú: Chung cư T, khu đô thị N, huyện H, thành phố Hà Nội giao nhận tài liệu với Tòa án (không triệu tập anh Đ).

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc L, sinh năm 1972 (vắng mặt)

    Nơi cư trú và địa chỉ cuối cùng của anh L tại Việt Nam: Số A, ngõ B, bờ đê Đ, phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Hiện anh L đang lao động ở nước ngoài không có địa chỉ).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1944 (vắng mặt)
    • - Bà Trần Thị L1, sinh năm 1955 (vắng mặt)

    Đều ở địa chỉ: Khu dân cư M, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 25/11/2024 (có xác nhận của Đ2 tại Cộng Hòa B), nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc L kết hôn hợp pháp với nhau và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 13/12/2016 tại Đ2 tại W, Cộng hòa B, giấy chứng nhận kết hôn số 59, quyển số 02/2016. Ban đầu cuộc sống hôn nhân của chị và anh L rất hạnh phúc, vợ chồng bảo ban làm ăn, tuy nhiên sau đó lại xảy ra nhiều mẫu thuẫn và sống chung với nhau không có hạnh phúc. Chị và anh L có liên lạc với nhau nhưng các cuộc điện thoại liên hệ chủ yếu là cãi vã, mắng nhiếc xúc phạm danh dự. Dù đã cố gắng nhiều lần nhưng chị và anh L vẫn không tìm được biện pháp gì để hàn gắn níu kéo cuộc sống chung và đều thống nhất ly hôn để giải thoát cho nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc L để anh, chị có cuộc sống ổn định riêng.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh Nguyễn Quốc L có 02 con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/05/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/05/2017. Hiện nay, cháu Nguyễn Tú A và cháu Nguyễn Phương A1 đang cùng sinh sống cùng bố mẹ chị là ông Nguyễn Thanh H1, bà Trần Thị L1 tại địa chỉ Khu dân cư M, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu Toà án giao cháu Nguyễn Tú A và cháu Nguyễn Phương A1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị đang làm việc tại nước ngoài nên bên bố mẹ chị là ông Nguyễn Thanh H1, bà Trần Thị L1 sẽ tiếp tục giúp đỡ chị nuôi dưỡng hai con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do hiện nay chị đang ở Ba Lan không thể đến làm việc với Tòa án được nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị ủy quyền cho anh Trần Văn Đ, sinh năm 1987; Nơi thường trú: Chung cư T, khu đô thị N, huyện H, thành phố Hà Nội giao nhận tài liệu với Tòa án.

Anh Nguyễn Quốc L là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông, bà nhất trí như trình bày của chị H.

Về con chung: Anh L, chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/5/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/5/2017. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng ông, bà tại khu dân cư M, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Ông, bà đồng ý thay chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tú A và cháu Phương A1 cho đến khi chị H về nước sinh sống. Ông, bà không yêu cầu chị H, anh L phải trích trả công sức nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu từ trước đến nay vì xác định đó vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của ông bà đối với con cháu. Chị H hàng tháng vẫn gửi tiền về cho ông, bà chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Ông, bà không biết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, ông, bà trình bày do ông, bà bận công việc nên không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng nên ông, bà đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Theo bản tự khai ngày 09/11/2024, cháu Nguyễn Phương A1 và cháu Nguyễn Tú A trình bày:

Các cháu là con đẻ của bố Nguyễn Quốc L và mẹ Nguyễn Thị H. Từ nhỏ cháu đã sinh sống cùng mẹ và ông bà ngoại, không ở cùng bố. Mẹ cháu đi làm xa nhưng thường xuyên gọi điện về hỏi thăm các cháu. Còn bố thì rất hiếm khi gọi điện về nói chuyện với các cháu. Hiện nay các cháu còn phải đi học nên không thể tham dự phiên tòa giải quyết vụ án ly hôn của bố mẹ. Trong trường hợp bố mẹ ly hôn, các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1 xin vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Quốc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Tòa án đã xác minh tại Công an Phường Đ, thành phố B do anh Đồng Văn L2 - Cảnh sát khu vực cung cấp: Anh Nguyễn Quốc L, sinh ngày 10/10/1972 là công dân địa phương. Địa chỉ: số A, ngõ B, bờ đê Đ, phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi đi lao động nước ngoài có cư trú cùng địa chỉ bà Nguyễn Thị H2. Bố mẹ anh Nguyễn Quốc L là Ông Nguyễn Quốc Đ1, bà Phạm Thị N đều đã chết.

Tại biên bản làm việc ngày 20/12/2024 và ngày 08/01/2025, bà Nguyễn Thị H2 là cô ruột của anh Nguyễn Quốc Long cung C:

Anh L là cháu trai, chị H là cháu dâu bà. Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Đ2 tại W, Cộng hòa B. Mới đầu cuộc sống vợ chồng anh chị diễn ra hạnh phúc, vợ chồng bảo ban nhau làm ăn. Tuy nhiên, một thời gian sau thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh, chị nói là do bất đồng quan điểm sống. Bà có khuyên bảo anh, chị về ở với nhau để chăm sóc con cái nhưng không được. Anh, chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/5/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/5/2017. Hiện nay cả hai cháu cùng đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ của chị H là ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1. Tài sản, công nợ của chung của anh, chị thì bà không rõ. Về yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh L, đó là chuyện của riêng vợ chồng anh chị nên bà không cho ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu giao cả hai con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/5/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/5/2017 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, và tạm giao cho ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1 nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam, bà đồng ý.

Anh L hiện đang ở Ba Lan, thường xuyên liên lạc về hỏi thăm gia đình, địa chỉ của anh L bà không biết, bà đã thông báo cho anh L biết về việc chị H xin ly hôn anh L.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị H; Bản tự khai của ông Nguyễn Thanh H1, bà Trần Thị L1, cháu Nguyễn Phương A1 và cháu Nguyễn Tú A; Biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị H2 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Quốc L không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị H, bị đơn anh L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1, bà L1 là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quốc L.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/5/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/5/2017 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Tú A và cháu Phương A1 cho ông H1, bà L1 nuôi dưỡng trong thời gian chị H ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu, giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện xin ly hôn anh L và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2]. Về thẩm quyền giải quyết: Chị H là nguyên đơn hiện nay đang ở nước ngoài. Theo Công văn trả lời số 30555/QLXNC-P3 ngày 24/12/2024 của Cục Q - Bộ C1 cung cấp, anh L xuất nhập cảnh 07 lần, lần gần nhất nhập cảnh ngày 11/01/2020 và xuất cảnh ngày 02/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh Việt Nam. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định anh L hiện nay đang lao động tại nước ngoài. Mặt khác, anh L là bị đơn hiện có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn chị H, bị đơn anh L đều ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

    Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1 đều xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1.

    Đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc L: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn chị H và bà H2 (là cô ruột anh L), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh L trước khi xuất cảnh ở số A, ngõ B, bờ đê Đ, phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh L thông qua người thân của anh L là bà Nguyễn Thị H2 và đề nghị bà H2 thông báo cho anh L biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H và bị đơn là anh Nguyễn Quốc L. Bà H2 cho biết anh L vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh L không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh L tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  4. [4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quốc L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 13/12/2016 tại Đ2 tại W, Cộng hòa B. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống chị H, anh L phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Quốc L.

    Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Quốc L. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H và anh L chung sống với nhau hạnh phúc, tuy nhiên một thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hàn gắn được. Vợ chồng có liên lạc với nhau nhưng các cuộc điện thoại liên hệ chủ yếu là cãi vã, mắng nhiếc, xúc phạm danh dự, không còn quan tâm nhau nữa. Hiện nay cả hai đều ở nước ngoài, nhưng chị H không có địa chỉ của anh L. Ngoài ra, bà H2 (là cô ruột anh L) cung cấp chị H, anh L có mâu thuẫn và được bà và gia đình hòa giải nhưng không thành. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị H, anh L không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh L, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quốc L như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

  5. [5]. Về nuôi con chung: Chị H và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/5/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/5/2017. Hiện nay hai cháu đang ở cùng ông H1, bà L1 (là ông bà ngoại của cháu Tú A và Phương A1). Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tú A và cháu Phương A1 và đề nghị tạm giao cháu Tú A, cháu Phương A1 cho ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1 (là bố mẹ đẻ chị H) chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài. Cháu Tú A, cháu Phương A1 có nguyện vọng được ở cùng mẹ và ông bà ngoại.

    Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Chị H và anh L đều đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài do vậy không thể trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Tuy nhiên, từ khi chị H, anh L đi lao động ở nước ngoài, cháu Tú A và cháu Phương A1 vẫn được ông H1, bà L1 chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Cháu Tú A và cháu Phương A1 trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ và ông H1, bà L1 nếu bố, mẹ ly hôn. Mặt khác, ông H1, bà L1 đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tú A, Phương A1 cho chị H cho đến khi chị H về nước sinh sống. Vì vậy, căn cứ vào điều kiện thực tế và để đảm bảo quyền, lợi ích mọi mặt của cháu Tú A, cháu Phương A1 cũng như nguyện vọng của các con chung. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận đề nghị của chị H giao con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/5/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/5/2017 cho chị H nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật sau khi ly hôn. Do hiện nay chị H đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu Tú A, cháu Phương A1 cho ông Nguyễn Thanh H1, bà Trần Thị L1 nuôi dưỡng cho đến khi chị Nguyễn Thị H về Việt Nam sinh sống là phù hợp điều kiện thực tế cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

    Sau khi ly hôn anh Nguyễn Quốc L không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

    Trường hợp anh Nguyễn Quốc L về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

  6. [6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do không đương sự nào yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. [7]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. [8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  9. [9]. Về quyền kháng cáo:

    Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quốc L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Ông Nguyễn Thanh H1, bà Trần Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quốc L.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 22/5/2017 và cháu Nguyễn Phương A1, sinh ngày 22/5/2017 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Nguyễn Tú A và cháu Nguyễn Phương A1 cho ông Nguyễn Thanh H1 và bà Trần Thị L1 nuôi dưỡng trong thời gian chị H ở nước ngoài. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Quốc L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000277 ngày 12/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp xong án phí sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quốc L có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Ông Nguyễn Thanh H1 và và Trần Thị L1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -Đại sứ quán Việt Nam tại W, Cộng hòa Ba Lan;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung giữa chị H và anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger