TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2025/DS-PT
Ngày 03-03-2025
“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Huỳnh Đắc Đương
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 346/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự
- Nguyên đơn: Ông Trần Anh T, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số A, đường Đ, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Anh T: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1963; địa chỉ: Khóm E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Theo văn bản ủy quyền ngày 20/12/2023) (có mặt).
- Nguời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Anh T: Luật sư Nguyễn Văn N – Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn N, thuộc đoàn luật sư tỉnh T (có mặt)
- Bị đơn:
- Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1965.
- Ông Phạm Văn G, sinh năm 1938.
- Ông Phạm Thanh L, sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: Số C, đường Đ, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Phạm Văn G, ông Phạm Thanh L: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1965; địa chỉ: Số C, đường Đ, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (Theo văn bản ủy quyền ngày 08/4/2024) (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Trần Anh T là nguyên đơn trong vụ án.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/12/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Anh T là ông Trần Văn T1 trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 04/12/2022, ông T và ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L do bà H đại diện gia đình có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và căn nhà cấp 4 tại Số C, đường Đ, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T và bà H đại diện gia đình thỏa thuận phần diện tích đất chuyển nhượng như sau: Phía Đông giáp đường Đ diện tích 6.9m. Phía Tây giáp bác sĩ T2, ông L1 diện tích 10.5m. Phía Nam giáp đoạn 28m sau giáp ông H1, bác sĩ S, ông Ử, ông M, đoạn trước giáp thửa 135 diện tích 26m. Phía Bắc giáp diện tích 52.8m giáp bà Huỳnh N1, bà Mỹ N2. Khi địa chính đo cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được bao nhiêu mét vuông trong tứ cận thì ông T đồng ý bấy nhiêu trên đất luôn căn nhà cấp 4. Ông T và gia đình bà H thoả thuận giá chuyển nhượng 11.500.000.000 đồng, thuế mua bán bên ai nấy nộp. Vào ngày 04/12/2022, ông T đã đặt cọc tiền cho gia đình bà H 1.000.000.000 đồng. Vào ngày 21/01/2023, gia đình bà H nhận tiếp 200.000.000 đồng. Vào ngày 21/4/2023, gia đình bà H nhận tiếp 800.000.000 đồng. Tổng số tiền ông T đặt cọc để chuyển nhượng phần đất và căn nhà nêu trên là 2.000.000.000 đồng có làm biên nhận. Phần tiền còn lại là 9.500.000.000 đồng ký xong hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng Công chứng ông T sẽ trả đủ. Bên chuyển nhượng gia đình bà H cam kết trong vòng 12 tháng kể từ ngày 04/12/2022 sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T. Ông T và gia đình bà H thống nhất theo thời hạn hợp đồng đặt cọc này. Ông T đến gặp bà H nhiều lần yêu cầu bà H làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên để kịp thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T nhưng gia đình bà H cố tình không thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên nên chưa ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T như đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 04/12/2022. Gia đình bà H đã vi phạm hợp đồng đặt cọc đã thỏa thuận ngày 04/12/2022. Tại phiên tòa, ông T1 là người đại diện theo ủy quyền của ông T xác nhận là khi ký hợp đồng đặt cọc phần đất nhận đặt cọc để chuyển nhượng đã biết đất nhận chuyển nhượng phát sinh tranh chấp. Do ông G, bà H, ông L vi phạm hợp đồng đã ký kết với ông T nên ông G, bà H, ông L phải bồi bồi thường gấp đôi số tiền đã đặt cọc là 2.200.00.000 đồng và ông T không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc với ông G, bà H, ông L với lý do là ông G, bà H, ông L đã vi phạm hợp đồng đặc cọc với ông T.
Nay ông T yêu cầu ông G, bà H, ông L trả lại cho ông T số tiền đặt cọc 2.000.00.000 đồng và yêu cầu ông G, bà H, ông L phải bồi thường gấp đôi số tiền đã đặt cọc là 2.000.00.000 đồng.
- Bị đơn bà H và là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông G, ông L trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 04/12/2022, bà cùng cha bà là ông G và em trai bà là ông L có ký hợp đồng đặt cọc với ông T để đảm bảo cho việc chuyển nhượng thửa đất và căn nhà cấp 4 tại Số C, đường Đ, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Thời hạn thỏa thuận theo hợp đồng đặt cọc là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên. Số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng. Bà cùng cha bà là ông G và em trai bà là ông L đã nhận đủ số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng từ ông T. Việc chưa thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì Ủy ban nhân dân phường 6 chưa hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất cho gia đình bà. Gia đình bà có 02 lần gửi văn bản đề nghị gia hạn hợp đồng đặt cọc và yêu cầu ông T thanh toán tiếp theo thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc nhưng ông T không đồng ý mà ông T khởi kiện gia đình bà ra Tòa án. Gia đình bà cho rằng ông T đang cố tình không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng mà yêu cầu gia đình bà bồi thường là không hợp lý.
Nay ông T yêu cầu bà, ông G, ông L trả lại cho ông T số tiền đặt cọc 2.000.00.000 đồng và bồi thường gấp đôi số tiền đã đặt cọc là 2.000.000.000 đồng thì bà, ông G, ông Lưu K đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T. Gia đình bà đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo như hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa ông G, bà H, ông L với ông T vào ngày 04/12/2022. Trường hợp, ông T không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo như hợp đồng đặt cọc được ký kết thì gia đình bà đồng ý trả lại cho ông T số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã xử:
Căn cứ vào các Điều 5; Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào điểm d mục 1 phần I của Nghị quyết số: 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Anh T về việc yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L trả cho ông T số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- Buộc bị đơn ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L có nghĩa vụ trả cho ông Trần Anh T số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Anh T về việc yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L phải bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc là 2.000.00.000 đồng (Hai tỷ đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/8/2024 ông Trần Anh T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh buộc ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L phải bồi thường tiền đặt cọc bằng 100% so với số tiền cọc của ông mà họ đã nhận là 2.000.000.000 đồng.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh có Quyết định kháng nghị số 22/QĐ-VKS-DS về việc kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Anh T về việc yêu cầu ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L phải bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng việc hợp đồng đặt cọc vào ngày 04/12/2022 thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Phạm Anh T3 và các bị đơn bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Văn G, ông Phạm Thanh L các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhận đặt cọc của ông Trần Anh T là 2.000.000.000 đồng và thời hạn 12 tháng phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất tuy nhiên qua thời hạn nêu trên nhiều lần phía nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Văn G, ông Phạm Thanh L nhưng không thực hiện hợp đồng. Vì vậy xét về lỗi khách quan là không có mà đây là lỗi chủ quan của ông G, bà H, ông Lưu K thực hiện hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 328 Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn buộc bà H, ông G, ông L phải có nghĩa vụ trả tiền cọc 2.000.000.000 đồng và tiền phạt cọc 2.000.000.000 tổng cộng là 4.000.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tại phiên tòa hôm nay Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh rút toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh.
Về nội dung vụ án: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến và tranh tụng công khai tại phiên toà hôm nay. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông Trần Anh T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh buộc ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L phải bồi thường tiền đặt cọc bằng 100% so với số tiền cọc đã nhận là 2.000.000.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận bởi vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất kí kết đặt cọc giữa hai bên đã vô hiệu ngay từ đầu được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 188, Điều 123 của Bộ luật dân sự “Hợp đồng vô hiệu thiệt hại của người...”. Tuy nhiên xét về lỗi cả hai điều có lỗi như án sơ thẩm đã nhận định vì vậy tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện hợp pháp của ông G, ông L là bà H tự nguyện hỗ trợ thêm để bù đắp vào khoản thiệt hại của ông Trần Anh T là 200.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sửa án sơ thẩm theo như nhận định nêu trên. Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên không đúng phần án phí của các đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa Bản án sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Trần Anh T kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh kháng nghị, xét thấy việc kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Anh T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh buộc ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L phải bồi thường tiền đặt cọc bằng 100% so với số tiền cọc của ông là 2.000.000.000 đồng. Xét kháng nghị số 22/QĐ-VKS-DS ngày 27/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Tại phiên tòa ngày hôm nay Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh rút toàn bộ kháng Nghị vì vậy Hội đồng xét xử đình chỉ phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh.
[3] Về nội dung kháng cáo của ông Trần Anh T xét thấy hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa ông T với ông G, bà H, ông L vào ngày 04/12/2022 và ngày 21/4/2023, tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên giao kết đều có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Việc giao kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên, trước khi thực hiện hợp đồng đặt cọc thỏa thuận việc chuyển nhượng hai bên đều biết là ngôi nhà gắn liền thửa đất dự định giao kết hợp đồng chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và đất đang tranh chấp, khiếu nại nên về nội dung của hợp đồng trái quy định điểm a Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 tại thời điểm giao kết hợp đồng đặt cọc; căn cứ Điều 123 BLDS giao dịch vô hiệu ngay từ khi được xác lập. Khi hợp đồng vô hiệu, căn cứ Điều 131 BLDS giải quyết hậu quả hợp đồng, hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, tuy nhiên ông G, bà H và ông L cũng thấy được trách nhiệm tự việc ký kết hợp đồng. Do nguyên nhân khách quan cơ quan quản lý hành chính nhà nước chưa thực hiện bởi vì cả hai đều có lỗi vì vậy tại phiên tòa hôm nay bà H tự nguyện hỗ trợ cho phía ông Trần Anh T số tiền 200.000.000 bù đắp vào số tiền trượt giá 2.000.000.000 đồng trong thời gian qua.
Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến hai bên không thực hiện tiếp tục hợp đồng hai bên đều có lỗi là lỗi của gia đình bà H, ông G, ông L và ông T. Cụ thể như sau: Lỗi ông T là biết đất chuyển nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà nhận chuyển nhượng và đặt cọc nên ông T phải chịu rủi ro về mặt pháp lý. Không tìm hiểu thông tin đất chuyển nhượng, gia đình bà H ông G ông L có tranh chấp hay không. Không hỏi lý do sao đất chưa được cấp quyền sử dụng đất dẫn đến hợp đồng vô hiệu; Lỗi ông G, bà H, ông L: Đất chưa được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất lại nhận đặt cọc để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhận tiền 2.000.000.000 đồng của nguyên đơn. Hợp đồng đặt cọc chưa thực hiện theo quy định tại điểm d mục 1 phần I của Nghị quyết số: 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự vì vậy dẫn đến không thực hiện hợp đồng được.
Nguyên nhân dẫn đến không thực hiện được hợp đồng là do nguyên nhân khách quan, cụ thể trong hợp đồng đặt cọc hai bên thỏa thuận trong 12 tháng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, nhưng trong thời hạn 12 tháng thỏa thuận và sau đó cơ quan có thẩm quyền chưa giải quyết xong khiếu nại quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh T. Nên không thể tiến hành thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Vì vậy cấp sơ thẩm tuyên bố không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T4 là phù hợp với nhận định nêu trên, là phù hợp với án lệ số 25/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Anh T không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm tuyên phần án phí của các đương sự kể cả nguyên đơn lẫn bị đơn chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử sửa phần này của bản án sơ thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Thu H về việc tự nguyện hỗ trợ tiền trược giá trong thời gian qua là 200.000.000 đồng.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa cho nguyên đơn được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần, tuy nhiên không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận phạt tiền cọc.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Trần Anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh và cầu kháng cáo của ông Trần Anh T.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/DS-ST ngày 12/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Anh T về việc yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L trả cho ông T số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- Buộc bị đơn ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L có nghĩa vụ trả cho ông Trần Anh T số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Thu H đại diện cho ông G, ông L sẽ tiếp tục trả tiền trượt giá 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) cho ông Trần Anh T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Anh T về việc yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn G, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L phải bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Nguyên đơn ông Trần Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 66.000.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu) nhưng được cấn trừ vào số tiền 56.000.000 đồng tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu số 0000153 ngày 27/02/2024. Buộc ông Trần Anh T phải tiếp tục nộp số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)
- Buộc bị đơn bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Thanh L mỗi người phải chịu 25.300.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Văn G.
Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được cấn trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông T đã nộp theo biên lai số 0000859 ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 62/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 62/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
