Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phan Văn Cường.
  2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXX-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thái Đ, sinh năm 1996 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Số E, đường T, tổ B, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không: giới tính: Nam; con ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1960 và bà Ngô Thị N, sinh năm 1961; có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự số 257/2015/HS-ST ngày 15/12/2015 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong hình phạt ngày 11/5/2016, đóng án phí ngày 18/02/2016; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Trần Thiện T, sinh năm 2000; thường trú: Số A, Khóm B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Số D, đường N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Hồ Trần T1, sinh năm 2001; thường trú: Xóm E, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị V, sinh năm 1977; thường trú: Số A, Khóm B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Số D, đường N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Chị Huỳnh Thị T2;
  2. Anh Hồ Trần T3;
  3. Anh Huỳnh Quốc L;
  4. Anh Nguyễn Thành L1;
  5. Ông Bùi Ngọc H.

Tất cả người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/8/2022, anh Hồ Trần T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison, biển số 61D1-53.606 vào cổng Khu Công nghiệp B thuộc phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì va quẹt vào xe mô tô của Nguyễn Thái Đ đi ngược chiều thì bị Đ chửi và xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, anh T1 điều khiển xe mô tô đến Công ty H2 thuộc khu công nghiệp B để đón bạn gái tên Huỳnh Thị T2 về nhà. Khi anh T1 điều khiển xe mô tô chở chị T2 ra trước cổng Công ty thì bị Đ dùng tay đánh và được mọi người can ngăn. Lúc này, đối tượng tên Năm Đ1 (chưa rõ nhân thân) quen với Đ điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Exciter biển số 63B2-105.80 màu xanh trắng lại hỏi thì Đ kể lại sự việc cho tên Năm Đ1 biết và tên Năm Đ1 nói “Để đó tao tính cho” rồi Đ chở bạn gái về Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, còn anh T1 chở chị T2 về nhà.

Chiều ngày 23/8/2022, Nguyễn Thái Đ ở Công ty H2 gọi điện thoại bằng Facebook (không nhớ tên facebook) cho Năm Đ1 hỏi “Tối nay sao anh” thì Năm Đ1 nói “Để đó đi tối nay tao giàn xếp, mày đi làm rồi ra chỗ tao sớm” thì Đ đồng ý. Đến khoảng hơn 19 giờ cùng ngày, Đ xin về sớm rồi đi nhờ xe của người quen đến trước dãy trọ nhà tên Năm Đ1 ở gần Khu Công nghiệp B, phường A, thành phố D. Tại đây, Đ nói với Năm Đ1 “bọn nó sắp đến” nên Năm Đ1 kêu thêm Đ2 (không rõ nhân thân), thì Đ2 cầm cây tuýp sắt bỏ vào cốp xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, biển số 63B2-105.80 của Năm Đ1. Lúc này, Đ2 gọi thêm 2, 3 đối tượng (không rõ nhân thân) cầm theo hung khí chạy vào Công ty H2. Khi đó Năm Đ1 đưa xe mô tô, nhãn hiệu Future màu trắng (không rõ biển số) cho Đ điều khiển, còn Năm Đ1 chở Đ2 bằng xe mô tô, nhãn hiệu Exciter biển số 63B2-105.80 đến Công ty H2 để đợi nhóm T1 đến đánh.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23/8/2022, anh Hồ Trần T1 chuẩn bị đi đón chị Huỳnh Thị T2 ở Công ty H2 thì chị T2 gọi điện báo cho anh T1 biết là thấy Đ cùng đồng bọn cầm hung khí chờ anh T1 ở gần cổng Công ty H2 và nói anh T1 đừng lên. Nghe vậy, anh T1 đến tiệm Sửa xe của anh trai tên Hồ Trần T3 tại địa chỉ số C, đường A, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh kể với anh T3 sự việc bị nhóm của Đ đánh và nhờ gặp mặt nói chuyện làm hòa thì anh T3 đồng ý. Lúc này, anh T3 đang ngồi với bạn tên là anh Huỳnh Quốc L, anh Kiều Công V1 và anh V2 (chưa rõ nhân thân) rủ mọi người cùng đi đến nói chuyện, giảng hòa thì tất cả đều đồng ý. Anh L gọi điện rủ thêm anh Trần Thiện T đi cùng. Anh T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu hiệu Honda Vision biển số 61D1-536.06 màu trắng đen qua tiệm Sửa xe của anh T3. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, anh T điều khiển xe mô tô chở anh T3, anh T1 đi xe riêng, anh V1 điều khiển xe mô tô chở anh L, anh V2 đi xe riêng, tất cả cùng đi đến cổng Công ty H2 để gặp nhóm Đ.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm Nguyễn Thái Đ đang chạy trong đường khu Công nghiệp B gần Công ty H2 để chờ nhóm anh T1 đến để giải quyết. Lúc này, nhóm của Đ có 07 người gồm: Điền, Năm Đ1, Đ2 cùng 04 đối tượng (không rõ nhân thân) do Đ2 kêu đến cầm theo 01 mã tấu, 01 cây ba trắc. Cùng lúc, thấy nhóm của anh T chạy xe đến nên Đ nói “Nó kìa mấy anh”. Lúc này, anh T3, anh L, anh T xuống xe đi lại chỗ nhóm của Đ hỏi “Hôm qua bên bạn đánh em tôi phải không” thì Đ2 nói to “Tụi nó kìa anh em, chém nó đi”, Đ2 cầm cây tuýp sắt, nhóm bạn của Đ2 cầm cây mã tấu, cây ba trắc lao vào nhóm anh T để đuổi đánh thì anh T3, anh L, anh V1 và anh V2 bỏ chạy ra hướng cổng Khu công nghiệp B, anh T1 đến sau thấy nhóm anh T3 bị đuổi chém nên quay xe trước cổng Công ty S đón chị T2 rồi chạy ra hướng cổng Khu công nghiệp B về nhà. Còn anh T định lấy xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vision biển số 61D1-536.06 nhưng không kịp liền bị nhóm bạn của Đ2 đuổi đánh, Đ2 cầm tuýp sắt đập phá xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vision biển số 61D1-536.06 làm hư xe, anh T bỏ chạy bộ thì bị một đối tượng cầm mã tấu (bịt khẩu trang) đuổi đánh, chém một cái vào lưng gây thương tích, anh T tiếp tục chạy đến trước cổng Công ty S thì bị ngã, nên bị các đối tượng tiếp tục cầm mã tấu, cây ba trắc, mũ bảo hiểm đánh, chém nhiều cái vào người gây thương tích thì được bảo vệ của công ty C1. Sau khi đánh chém xong, Đ chạy xe mô tô hiệu Future màu trắng (không rõ biển số) đến chở đối tượng cầm cây ba trắc, Năm Đ1 chở đối tượng cầm cây mã tấu, Đ2 chở bạn của Đ2 rồi cùng bỏ chạy về trước dãy trọ, còn Năm Đ1 ở cổng phụ Khu công nghiệp B rồi Điền nhờ Đ2 chở đến Cầu vượt S thì xuống xe. Cùng lúc, Đ gọi điện thoại cho bạn gái tên Nguyễn Thị T4 đến chở Đ về nhà tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, anh L cùng Công an phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến hiện trường đưa anh T đi cấp cứu tại Bệnh viện H3 và sau đó chuyển đến Bệnh viện thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị.

Ngày 24/8/2022, bà Lê Thị V là mẹ của bị hại đến trình báo sự việc tại Đồn Công an Khu Công nghiệp S. Ngày 09/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 709/2022/GÐPY ngày 13/10/2022 của Trung tâm giám định pháp y - Sở y tế tỉnh B đối với thương tích anh Trần Thiện T, kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • Vết thương vòng từ mặt sau ra mặt trước 1/3 dưới cẳng tay trái 10cm x 0,4cm, đứt gân gấp duỗi cổ tay trụ, đứt bó mạch thần kinh trụ, gãy 1/3 dưới xương trụ, mẻ 1/3 dưới xương quay trái, đã phẫu thuật kết hợp xương trụ, nối gân cơ - thần kinh, vết thương mổ 9cm x 0,5cm, sẹo lành. Di chứng: Tổn thương liệt nhánh thần kinh trụ (bàn tay vuốt trụ), hạn chế vận động cổ - bàn tay.
    • Chấn thương gãy kín xương bàn V bàn tay phải, đã phẫu thuật kết hợp xương, vết mổ 3,5cm x 0,4cm, sẹo lành;
    • Vết thương 1/3 dưới mặt trước cẳng chân phải 3cm x 0,2cm, sẹo lành;
    • Vết sước da vùng trước vai phải 9cm x 0,2cm, vết sướt da lưng phải 18cm x 0,5cm lành da.
  2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 34% (Ba mươi bốn phần trăm). Căn cứ theo Bảng Tỷ lệ tổn thương cơ thể kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 do Bộ trưởng Bộ Y ban hành, về “Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp Y, giám định pháp y tâm thần”.
  3. Kết luận khác:
    • Cơ chế hình thành thương tích:
      • Vết thương 1/3 dưới cẳng tay trái vòng từ mặt sau ra trước, đứt gân gấp duỗi cổ tay trụ, đứt bó mạch thần kinh trụ, gãy 1/3 dưới xương trụ, mẻ 1/3 dưới xương quay trái: Sẹo bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
      • Chấn thương gãy kín xương bàn V tay phải: Gãy xương kín không có vết thương ngoài da, khả năng do vật tày gây ra.
      • Vết thương 1/3 mặt trước cẳng chân phải: Bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
      • Vết sướt da vùng trước vai phải: chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
      • Vết sướt da lưng phải: Chiều nằm ngang, hướng từ trước ra sau, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
    • Tại Kết luận định giá tài sản số 137/BBĐG-HĐĐGTS ngày 03/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự Ủy Ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison, biển số 61D1-53606, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 3.460.000 đồng.

Đối với hành vi đập phá làm hư hỏng xe mô tô hiệu Vision biển số 61D1-536.06, bị cáo Nguyễn Thái Đ khai do đối tượng Đ2 (chưa rõ nhân thân) cùng bạn của Đ2 thực hiện, bị cáo Đ không bàn bạc hay rủ rê thực hiện hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, không trực tiếp tham gia và chỉ rủ các đối tượng tham gia gây thương tích cho nhóm của anh T1. Do đó, đối với hành vi này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiếp tục Điều tra thu thập tài liệu để xử lý sau.

Đối với Năm Đ1, Đ2 (chưa rõ nhân thân) cùng các đối tượng khác chưa rõ nhân thân, sau khi gây án đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã Quyết định tách vụ án hình sự “Cố ý gây thương tích; Cố ý làm hư hỏng tài sản” số 3118/QĐ-Đ.ĐTTH ngày 27/6/2024 để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Đối với xe mô tô, nhãn hiệu Vision biển số 61D1-536.06, số khung: RLHJF5803EY063297, số máy: JF58E0063439 (màu trắng) bị hư hỏng là xe do chị Phan Ngọc H1 là chủ sở hữu và giao cho anh Trần Thiện Thanh quản L2 sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại xe mô tô trên cho anh T theo quy định.

Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 709/2022/GĐPY ngày 13/10/2022 của Trung tâm giám định pháp y - Sở y tế tỉnh B.

Tại Cáo trạng số 343/CT-VKS-DA ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Thái Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ theo điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là từ 08 năm đến 09 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo Nguyễn Thái Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần, ngày công lao động, công người chăm sóc cho bị hại.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Trần Thiện T tranh luận: Yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần, ngày công lao động, công người chăm sóc và thiệt hại xe mô tô với tổng số tiền là 146.351.000 đồng. Về hình phạt của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị V không tham gia tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ 30 ngày 23/8/2022, nhóm của bị cáo Nguyễn Thái Đ có 07 người gồm: Điền, Năm Đ1, Đ2 cùng 04 đối tượng (không rõ nhân thân) do Đ2 kêu đến tụ tập tại khu Công nghiệp B gần Công ty H2 mang theo vũ khí gồm mã tấu, cây ba trắc, cây tuýp sắt đuổi đánh nhóm của bị hại gây thương tích cho anh Trần Thiện T, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 34%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thái Đ cùng đồng phạm dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, việc nhóm của bị cáo Nguyễn Thái Đ tụ tập, sử dụng hung khí gồm mã tấu, cây ba trắc, cây tuýp sắt đuổi chém bị hại trước cổng Công ty S thuộc khu Công nghiệp B vào thời điểm tan ca của công nhân làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại khu vực, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Cáo trạng số 343/CT-VKS-DA ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  3. Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, nguyên tắc an toàn nơi công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
  4. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
  5. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. Về nhân thân: Bị cáo là người không có nghề nghiệp đã từng bị Tòa án xét xử về tội chống người thi hành công vụ.
  7. Về hình phạt: Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Thái Đ là rất nguy hiểm cho xã hội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không đến cơ quan có thẩm quyền để trình báo mà bỏ trốn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố giải quyết vụ án. Do đó, đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

    - Hình phạt bổ sung: Xét thấy mức hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung.

  8. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Thiện T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thái Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần, ngày công lao động, công người chăm sóc là 142.891.000 đồng và thiệt hại xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 61D1-536.06 là 3.460.000 đồng, tổng cộng là 146.351.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  9. Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô, nhãn hiệu Vision biển số 61D1-536.06, số khung: RLHJF5803EY063297, số máy: JF58E0063439 (màu trắng) bị hư hỏng là xe do chị Phan Ngọc H1 đứng tên chủ sở hữu và giao cho anh Trần Thiện Thanh quản L2, sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe mô tô trên cho anh T theo quy định.
  10. Đối với Năm Đ1, Đ2 (chưa rõ nhân thân) cùng các đối tượng khác chưa rõ nhân thân, lai lịch, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã Quyết định tách vụ án hình sự “Cố ý gây thương tích”, “Cố ý làm hư hỏng tài sản” để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

    Đối với hành vi đập phá làm hư hỏng xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 61D1-536.06, bị cáo Nguyễn Thái Đ khai do đối tượng Đ2 (chưa rõ nhân thân) và bạn của Đ2 thực hiện, bị cáo Đ không bàn bạc hay rủ rê thực hiện hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, không trực tiếp tham gia và chỉ rủ các đối tượng tham gia gây thương tích cho nhóm anh T1. Do đó, đối với hành vi này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

  11. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
  12. Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.
    • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Đ 06 (sáu) năm tù về tội cố ý gây thương tích.
    • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Đ 02 (hai) năm tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
    • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.
    • Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thái Đ phải chấp hành chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    Buộc bị cáo Nguyễn Thái Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại anh Trần Thiện T số tiền 146.351.000 (một trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn) đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Nguyễn Thái Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.317.550 (bảy triệu ba trăm mười bảy nghìn năm trăm năm mươi) đồng án phí dân sự.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phân trại tạm giam tạm khu vực tp D (01);
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh B (01);
  • - Chi cục THADS thành phố D (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (01);
  • - Người tham gia tố tụng (03);
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái Đ phạm tội Gây rối trật tự công cộng và tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger