Mẫu số 52-DS
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2025/DS-ST Ngày: 21-02-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên toa.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1219/2024/TLST -DS, ngà “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S (Viết tắt là Công ty S)
Trụ sở: 128 đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: KANOKWATPAISAL NAPAT – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hà V, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ liên hệ: 187 đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo Giấy ủy quyền số 1983/2024/UQ-SVN, ngày 01/01/2024 của Công ty S.
Bị đơn: Bà Diệp Thanh T, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Cư trú: Số I tổ B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 25/10/2024 nguyên đơn thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:
2
Ngày 01/11/2023 bà Diệp Thanh T và chi nhánh C - Công ty TNHH S1 (Công ty TNHH S1 nay đổi thành Công ty Cổ phần S) có ký hợp đồng cầm cố số LJM2312010.01.NA16X với nội dung cụ thể như sau:
1/ Tài sản cầm cố: xe máy 02 bánh biển kiểm soát 67B1-877.37 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 04/6/2020 cho Diệp Thanh T (số máy KF11E1751410; số khung MH1KF1114GK752314);
2/ Số tiền cầm cố 13.548.000 đồng; thời hạn cầm cố 12 tháng; mục đích cầm cố phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh; ngày nhận tiền cầm cố 01/11/2023; lãi suất cầm cố 1,1% số tiền cầm cố/tháng; phí quản lý hồ sơ cố định 0,5% số tiền cầm cố/tháng; lãi suất quá hạn 4% số tiền quá hạn thanh toán/tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn; phí mượn xe 5% số tiền cầm cố/tháng; phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm; phí tất toán hợp đồng trước hạn: 7% nợ gốc chưa thanh toán; chi phí tố tụng 10% trên dư nợ gốc, lãi, phí quản lý hồ sơ cố định chưa thanh toán.
Do nhu cầu đi lại phục vụ công việc nên ngày 01/11/2023 bà T có đơn xin mượn lại tài sản cầm cố với nội dung như sau:
- - Thời hạn mượn là 30 ngày: từ ngày 01/11/2023 đến ngày 01/12/2024;
- - Phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là 528.372 đồng/tháng;
- - Khi khách hàng thanh toán đúng hạn phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là 392.892 đồng/tháng (trong vòng 05 ngày tính từ ngày thanh toán hằng tháng);
Công ty đã đồng ý cho khách hàng mượn tài sản nêu trên theo nguyện vọng và khách hàng cam kết thực hiện đúng nội dung đã ký cam kết trên hợp đồng và giấy mượn xe, giấy tờ khác liên quan. Bà T có cam kết trong giấy mượn xe “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận” theo yêu cầu của công ty.
Khi ký kết hợp đồng cầm cố thì hai bên tiến hành lập hợp đồng và phụ lục hợp đồng kèm theo hợp đồng chính. Trong nội dung phụ lục hợp đồng, bên cầm cố tài sản đồng ý cho công ty có quyền được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố và không hoàn trả hoa lợi, lợi tức đó cho khách hàng khi hợp đồng chấm dứt. Thỏa thuận mượn xe thực hiện đúng quyền của bên nhận cầm cố nên việc cầm cố tài sản và cho mượn tài sản công ty là đúng quy định pháp luật.
Để bảo đảm cho hợp đồng cầm cố tài sản số LJM2312010.01.NA16X ký ngày 01/11/2023 khách hàng đã thế chấp chiếc xe cầm cố nêu trên. Việc thế chấp được công ty đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống trực tuyến của cục Đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng cầm cố Công ty S đã giải ngân cho khách hàng số tiền là 13.548.000 đồng theo đề nghị cầm cố và hợp đồng cầm cố số LJM2312010.01.NA16X ký ngày 01/11/2023. Bà T chưa thanh toán được khoản nào cho công ty.
3
Đối với hợp đồng mượn xe bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết và đã hết thời gian mượn xe không bàn giao lại tài sản cho công ty. Công ty đã yêu cầu bà T bàn giao lại tài sản nhưng bà T không thực hiện.
Do đó, Công ty S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc bà T phải thanh toán cho Công ty S số tiền tạm tính đến ngày 25/10/2024 là 26.113.486 đồng. Trong đó: tiền gốc 13.548.000 đồng; tiền lãi trong hạn 996.855 đồng; lãi quá hạn 3.812.092 đồng; phí mượn xe là 5.812.092 đồng; phí quản lý hồ sơ cố định 453.116 đồng; phí tất toán trước hẹn 948.360.000 đồng; phạt vi phạm nghĩa vụ 1.083.840 đồng.
- - Ngoài ra bà T còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn kể từ ngày 25/10/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
- - Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Công ty S được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty S.
- - Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty S.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn bà Diệp Thanh T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa ngày 21 tháng 02 năm 2025: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty S khởi kiện yêu cầu bà T thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng vay, hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản. Bà T có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Nguyên đơn ủy quyền cho bà V. Việc ủy quyền phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, bà V tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
[2.2] Bà V vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà V, bà T.
[3] Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến trình bày, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa mà Tòa án triệu tập nên
4
Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn hay chưa.
[4] Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Đối với yêu cầu trả số tiền 13.548.000 đồng: Mặc dù giữa nguyên đơn và bị đơn không có xác lập hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào “Hợp đồng cầm cố số LJM2312010.01.NA16X ký ngày 01/11/2023” ký với Chi nhánh C - Công ty TNHH S1 thể hiện số tiền bà T vay là 13.548.000 đồng. Hai bên thỏa thuận phương thức thanh toán là 1.249.830,86 đồng/tháng. Thời hạn thanh toán là vào ngày 01 hằng tháng, từ tháng 12/2023 đến tháng 11/2024. Tuy nhiên, phía bà T đã không thực hiện đúng thỏa thuận nên nguyên đơn yêu cầu bà T trả số tiền gốc 13.548.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.2] Đối với yêu cầu trả lãi: “Hợp đồng cầm cố số LJM2312010.01.NA16X ký ngày 01/11/2023” thể hiện quan hệ vay giữa hai bên là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi. Đến hạn trả bà T đã không trả nợ như thỏa thuận cho nguyên đơn do đó nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,1%/tháng; lãi quá hạn là 150% mức lãi suất trong hạn tương đương mức lãi suất 1,65%/tháng, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về thời gian và cách tính lãi: Nguyên đơn yêu cầu bà T trả lãi trong hạn là 996.855 đồng kể từ ngày 01/11/2023 đến ngày 01/11/2024 và lãi quá hạn là 3.338.227 đồng kể từ ngày 02/12/2023 đến ngày 21/02/2025 (Theo Bảng kê số tiền phải trả của Diệp Thanh T, ngày 21/02/2025). Tổng số tiền lãi yêu cầu là: 4.334.082 đồng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy số tiền bà T vay được giải ngân vào ngày 01/11/2023, quá trình thực hiện hợp đồng vay ngay kỳ thanh toán đầu tiên là ngày 01/12/2023 bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản vay 13.548.000 đồng sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu trả số tiền lãi trong hạn của kỳ thanh toán đầu tiên từ ngày 01/11/2023 đến ngày 01/12/2024. Số tiền lãi trong hạn còn lại nguyên đơn yêu cầu bà T trả Hội đồng xét xử không chấp nhận vì phía nguyên đơn đã chuyển khoản vay này thành khoản vay quá hạn và tính lãi quá hạn 150% mức lãi suất trong hạn.
Số tiền lãi bà T phải trả cho nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận cụ thể như sau:
- - Lãi trong hạn từ ngày 01/11/2023 đến ngày 01/12/2023 là 31 ngày: 13.548.000 đồng x 1,1%/tháng x 31 ngày = 153.996 đồng;
- - Lãi quá hạn từ ngày 02/12/2023 đến ngày 21/02/2025 là 448 ngày: 13.548.000 đồng x 1,65%/tháng x 448 ngày = 3.338.227 đồng.
Tổng số tiền lãi bà T phải trả cho nguyên đơn là: 3.492.223 đồng.
Số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu không được Hội đồng xét xử chấp nhận là: 841.859 đồng.
5
Tổng số tiền gốc và lãi bà T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là: 17.040.223 đồng.
[4.3] Đối với yêu cầu trả phí quản lý hồ sơ cố định 453.116 đồng và phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán 1.083.840 đồng: Các khoản phí này hai bên tự nguyện thỏa thuận khi giao kết hợp đồng không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại VARIO, biển số 67B1-877.37, số khung MH1KF1114GK752314, số máy KF11E1751410, Giấy chứng nhận đăng ký xe số 134735 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 04/6/2020 cho Diệp Thanh T để thi hành án trong trường hợp bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Hợp đồng cầm cố số LJM2312010.01.NA16X ký ngày 01/11/2023 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đ thuộc Bộ Tư pháp vào ngày 25/12/2023. Trường hợp bà T không thanh toán số tiền trên, nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là phù hợp Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm nếu bà T thực hiện xong nghĩa vụ với nguyên đơn thì nguyên đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản cầm cố, cùng giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định tại Điều 316 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4.5] Đối với yêu cầu của nguyên đơn: Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nợ thì bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Công ty S. Yêu cầu này sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành bản án của Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.6] Đối với yêu cầu trả phí mượn xe 6.340.464 đồng: Căn cứ Điều 496 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên mượn tài sản và Điều 499 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của bên cho mượn tài sản thì pháp luật không quy định bên mượn tài sản có nghĩa vụ và bên cho mượn tài sản có quyền yêu cầu liên quan đến khoản phí này nên không căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trả phí mượn xe của nguyên đơn.
[4.7] Đối với yêu cầu trả phí thanh lý trước hạn 948.360 đồng: Căn cứ vào hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản mà bà T ký với nguyên đơn thì không có hợp đồng nào bà T thanh lý trước hạn. Các hợp đồng bà T đều vi phạm nghĩa vụ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả phí thanh lý trước hạn là không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn phải chịu án phí đối với nghĩa vụ trả số tiền 18.124.063 đồng cho nguyên đơn;
- - Nguyên đơn phải chịu án phí đối với các yêu cầu khởi kiện Hội đồng xét xử không chấp nhận gồm: 841.859 đồng lãi trong hạn + 6.340.464 đồng phí mượn xe + 948.360 đồng phí thanh lý trước hạn. Tổng số tiền chịu án phí là 8.130.865 đồng.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 128, khoản 4 Điều 147, 186, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 309, 310, 311, 313, 316, 299, 302, 303, 463, 466, 468, 470, 494, 496, 499 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 2, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay đối với bà Diệp Thanh T gồm:
- - Trả tiền lãi trong hạn 841.859 (T1 trăm bốn mươi mốt nghìn, tám trăm năm mươi chín đồng);
- - Trả phí mượn xe 6.340.464 (Sáu triệu, ba trăm bốn mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn đồng);
- - Trả phí thanh lý trước hạn 948.360 (Chín trăm bốn mươi tám nghìn, ba trăm sáu mươi đồng).
2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay:
2.1 Buộc bà Diệp Thanh T trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay: 18.577.179 (Mười tám triệu, năm trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm bảy mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc 13.548.000 đồng; lãi trong hạn 153.996 đồng và lãi quá hạn là 3.338.227 đồng; phí quản lý hồ sơ 453.116 đồng và phí vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 1.083.840 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận.
2.2 Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì Công ty Cổ phần S Có Ngay có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại VARIO, biển số 67B1-877.37, số khung MH1KF1114GK752314, số máy KF11E1751410, Giấy chứng nhận đăng ký xe số 134735 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 04/6/2020 cho Diệp Thanh T để thi hành án.
2.3 Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm nếu bà T thanh toán đầy đủ nợ gốc, lãi và phí cho Công ty Cổ phần S Có Ngay thì Công ty Cổ phần S Có Ngay có nghĩa vụ trả lại tài sản bản đảm và bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe nêu tại mục 2.2 cho bà T.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
7
Bà T phải nộp 929.000 (Chín trăm hai mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
Công ty Cổ phần S Có Ngay phải chịu 407.000 (Bốn trăm lẻ bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào 653.000 (Sáu trăm năm mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001822, ngày 08/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Công ty Cổ phần S Có Ngay được nhận lại 246.000 (Hai trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm án phí đã nộp.
4/ Về quyền kháng cáo:
Công ty Cổ phần S Có Ngay, bà Diệp Thanh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 62/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản
- Số bản án: 62/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu
