TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/02/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm
Ông Phạm Công Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 592/2024/HNGĐ-TLST ngày 11/11/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 595/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐ-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Văn L, sinh ngày 23/8/1996
Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn : Chị Phạm Thị Huyền C, sinh ngày 17/4/2002.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Q, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang ở: Hàn Quốc.
( Anh L có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Chị C được triệu tập hợp lệ, vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Bùi Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Huyền C tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 25/8/2020. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc. Sau đó anh và chị C cùng thống nhất sang Hàn Quốc lao động, đến tháng 8/2023 anh bị trục xuất về nước còn chị C vẫn ở Hàn Quốc lao động. Do sống xa nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 5/2024 vợ chồng chấm dứt liên lạc, không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị C.
Về quan hệ con chung: Anh và chị C có 1 con chung là Bùi Huy K, sinh ngày 13/10/2020, hiện nay cháu K đang ở với anh. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trường hợp chị C về Việt Nam thì anh đồng ý để chị C nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị C không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
- Chị Phạm Thị Huyền C hiện nay đang lao động tại Hàn Quốc, do anh L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị C, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị C qua gia đình. Bà Phạm Thị B là mẹ đẻ chị C xác định, năm 2022 chị C sang Hàn Quốc du lịch, sau đó ở lại làm việc. Từ khi đi chị C chưa về Việt Nam lần nào, địa chỉ của chị C ở nước ngoài bà không biết, nhưng chị C thường xuyên liên lạc về gia đình. Bà B đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông tin cho chị C biết, đồng thời có quan điểm vì cháu Bùi Huy K còn nhỏ nên bà không đồng ý cho anh L ly hôn chị C. Thông qua việc gọi điện chị C đã có quan điểm với Toà án. Cụ thể chị cho biết chị có biết việc anh L làm đơn ly hôn, nhưng chị chỉ đồng ý ly hôn khi anh L để chị được thường xuyên gọi điện gặp con, Tại thời điểm này, chị đồng ý để anh L nuôi con, sau khi về Việt Nam chị và anh L sẽ tôn trọng ý kiến của con để quyết định về việc con ở với ai. Anh L không có quyền ngăn cản chị gặp con. Về tài sản chung, chị đề nghị giải quyết sau. Do điều kiện công việc chị không về được Việt Nam để giải quyết ly hôn với anh L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh L và chị C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh L được ly hôn chị C. Về con chung: Giao con chung Bùi Huy K, sinh ngày 13/10/2020 cho anh L chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yêu cầu chị C cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Anh L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Bùi Văn L và chị Phạm Thị Huyền C có hộ khẩu thường trú tại thôn Q, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện nay chị C đang lao động tại Hàn Quốc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, anh L không cung cấp được địa chỉ của chị C tại Hàn Quốc. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình chị C cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình chị C được biết, chị C thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Phạm Thị B. Bà B đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị C biết. Thông qua gia đình chị C cũng đã có quan điểm về việc ly hôn và nuôi con.
Anh L có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Chị C được triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn L và chị Phạm Thị Huyền C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 25/8/2020, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 5/2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, dẫn đến hai bên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn chị C. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình chị C có quan điểm chị chỉ đồng ý ly hôn khi anh L không ngăn cản chị thăm gặp, gọi điện nói chuyện với con. Chị C không nói rõ nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, nhưng cũng không có nguyện vọng mong muốn được hòa giải đoàn tụ. Do vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh L và chị C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L.
- Về quan hệ con chung: Anh Bùi Văn L và chị Phạm Thị Huyền C có một con chung là Bùi Huy K, sinh ngày 13/10/2020. Hiện nay cháu K đang sống cùng bố, ly hôn anh L có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy cháu K còn nhỏ và hiện đang được anh L chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C đang sống ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Do đó để đảm bảo quyền lợi của cháu K, cần tiếp tục giao cháu K cho anh L được chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Trường hợp anh L không đủ điều kiện nuôi con, chị C có quyền đề nghị thay đổi nuôi con trong vụ án khác.
Chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Bùi Văn L và chị Phạm Thị Huyền C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3].Về án phí: Anh Bùi Văn L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bùi Văn L được ly hôn chị Phạm Thị Huyền C.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Bùi Huy K, sinh ngày 13/10/2020 cho anh Bùi Văn L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh L không yêu cầu chị C cấp dưỡng tiền nuôi con.
Chị Phạm Thị Huyền C được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Bùi Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005272 ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Huyền C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Bùi Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
5
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
