Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số:62/2024/HNGĐ-ST

Ngày 13-12-2024

V/v “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thân Thị Tuyết Nhung
  2. Ông Nguyễn Văn Tư

Thư ký phiên toà: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/11/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1977 (Xin xét xử vắng mặt)

HKTT: Thôn Riễu, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở: Thôn Tân Cũ, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn R, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo khởi kiện đề ngày 02/8/2024 và bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện L (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang ngày 07/10/1997. Trước khi cưới chị và anh T có được tìm hiểu nhau một thời gian. Sau khi cưới chị về làm dâu gia đình nhà anh T ngay. Những năm đầu sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng càng về sau trong quá trình chung sống thì giữa hai vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, không hoà hợp được với nhau về quan điểm sống. Đến đầu năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng hơn. Thậm chí đôi bên còn có những hành vi, lời nói xúc phạm đến danh dự, uy tín và nhân phẩm của nhau. Anh T thường hay uống rượu và đánh chị nhiều lần mỗi khi vợ chồng xảy ra xô xát cãi nhau. Do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên tháng 7/2024 chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang để sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai còn quan tâm tới ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 09/9/1998 và cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 24/03/2001. Hiện nay cháu Tuấn A và cháu M đã trưởng thành và có gia đình riêng nên chị không yêu cầu giải quyết về con chung.

- Về tài sản chung: Chị xác định tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Anh và chị Ngô Thị H đăng ký kết hôn với nhau ngày 07/10/1997 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện L (nay là thành phố B) trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi cưới anh và chị H có được tìm hiểu nhau một thời gian. Sau khi cưới, chị H về làm dâu gia đình nhà anh ngay và vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh. Trong cuộc sống hàng ngày giữa anh và chị H không có mâu thuẫn gì, vợ chồng vẫn tập chung bảo ban nhau làm ăn và nuôi dậy con cái. Cách đây khoảng 03 tháng thì do mạng wifi cắm nhiều bị đỏ nên anh có rút dây ra thì chị H có nói anh xấu tính, nói nhiều câu không hay nên vợ chồng có xảy ra xô xát, du đẩy nhau. Sau khi xảy ra xô xát thì chị H có lên nhà cậu em ở L và ở luôn từ thời gian đấy không về. Từ khi chị H về L ở thì anh có lên đón vài lần nhưng không gặp nên không nói chuyện được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn vợ chồng không trầm trọng nên chị H xin ly hôn anh không đồng ý, đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng anh về đoàn tụ.

· Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 09/9/1998 và cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 24/03/2001. Hiện nay các con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng nên anh không yêu cầu giải quyết.

· Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 23/10/2024, ông Nguyễn Văn C - Trưởng thôn Riễu, xã D, thành phố B cung cấp: Anh T và chị H kết hôn với nhau năm 1997 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, được tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Sau khi cưới, chị H về làm dâu gia đình nhà anh T ngay và vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh T. Cuộc sống vợ chồng anh T, chị H hàng ngày cũng bình thường, không có mâu thuẫn gì lớn, địa phương chưa bao giờ phải can thiệp chuyện vợ chồng đánh cãi, chửi nhau. Chỉ lần duy nhất gần đây vợ chồng đánh nhau thì địa phương có biết và can thiệp. Anh T thường hay uống rượu và uống nhiều từ khi làm nghề bán thịt chó. Chính vì rượu nên vợ chồng mới xảy ra xô xát. Chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở L vài tháng nay, không còn chung sống cùng anh T. Nay chị H xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản thì đề nghị Toà án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 12/11/2024, anh Ngô Văn Đ– em trai chị Ngô Thị H cung cấp: Anh là em trai chị Ngô Thị H. Chị H kết hôn với anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 ở thôn R, xã D trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị H về làm dâu gia đình nhà anh T ngay. Quá trình chung sống, vợ chồng chị H, anh T liên tục xảy ra mâu thuẫn. Từ khi lấy anh T, chị H đã trên dưới 20 lần về nhà bố mẹ anh và nhà anh để ở. Sau đấy, anh T lên xin lỗi thì vợ chồng lại về đoàn tụ nuôi dậy con. Anh T đã nhiều lần đánh đuổi chị H nhưng chị vẫn tha thứ, bỏ qua. Tuy nhiên, từ tháng 6/2024 đến nay thì chị H đã về nhà anh để ở do bị anh T đánh. Từ khi chị H về trên nhà anh ở thì anh T không lên đón và chị H cũng không muốn quay về đoàn tụ. Quan điểm của anh đề nghị Toà án giải quyết cho chị H được ly hôn anh T vì chị H đã chịu đựng nhiều năm, việc anh T, chị H tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc. Đây là ý kiến, quan điểm của anh còn giải quyết vụ án đề nghị Toà án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 12/11/2024, chị Vũ Thị Ngọc Á – con dâu anh T, chị H trình bầy: Chị kết hôn với anh Nguyễn Tuấn A (là con trai ông T, bà H) năm 2021. Sau khi đăng ký kết hôn và được gia đình tổ chức hôn lễ thì chị cùng anh Tuấn A chung sống cùng bố mẹ chồng là ông T, bà H ngay. Quá trình chung sống cùng bố mẹ chồng, chị thấy bố chồng chị thường xuyên uống rượu say, chửi bới, đánh đập mẹ chồng chị vô cớ dù mẹ chồng chị không hề gây sự hay có vấn đề gì nhưng bố chồng chị vẫn viện các lý do để chửi bới, đánh đập. Mỗi lần bị đánh thì mẹ chồng chị chỉ nhẫn nhịn, chịu đựng chứ không đi báo chính quyền địa phương. Vợ chồng chị những lần chứng kiến bố chồng chị chửi bới, đánh mẹ chị thì có can thiệp nhưng đều bị đuổi đánh. Vì lý do con nhỏ và sức khoẻ khi mang thai không muốn bị ảnh hưởng tâm lý khi chứng kiến bố mẹ chồng mâu thuẫn nên chị có đưa con nhỏ về nhà ông bà ngoại ở Thanh Hoá để ở, thi thoảng mới đưa con về thăm ông bà nội. Tháng 8/2024, chị đưa con về thăm ông bà và lại tiếp tục chứng kiến bố chồng chị đánh mẹ chồng chị, bố chồng chị còn cầm dao doạ nạt nên chị lại đưa con về Thanh Hoá sinh sống. Chị thấy cuộc sống hôn nhân của bố mẹ chồng chị đã mâu thuẫn trầm trọng, bố chồng chị thường xuyên bạo hành mẹ chồng chị nên chị đề nghị Toà án xem xét, giải quyết hợp tình hợp lý để đảm bảo quyền lợi cho mẹ chồng chị.

Nguyên đơn chị Ngô Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T đã được thông báo tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành phát luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

+ Về quan hệ vợ chồng: Chị Ngô Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T..

+ Về con chung, về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Ngô Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú và nơi ở tại thôn R, xã D, thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Ngô Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H, anh T theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 07/10/1997 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện L (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Chị H đã cung cấp được trích lục kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Anh T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án nhận được đơn xin ly hôn của chị H tháng 8/2024. Chị H đề nghị Toà án tiến hành hoà giải theo thủ tục hoà giải, đối thoại ngoài Toà án. Toà án đã có thông báo 02 lần mời anh T xuống hoà giải, tuy nhiên anh T không xuống Toà án tham gia hoà giải. Do vậy, chị H đề nghị chấm dứt thủ tục hoà giải đối thoại ngoài Toà án. Sau khi chấm dứt thủ tục hoà giải, đối thoại ngoài Toà án, chị H đã đi nộp tiền tạm ứng án phí và được Toà án thụ lý, giải quyết theo vụ án hôn nhân gia đình. Quá trình giải quyết, Toà án đã báo gọi anh T nhiều lần xuống Toà án làm việc và hoà giải nhưng anh T không hợp tác, không xuống Toà án làm việc. Điều đó chứng tỏ anh T không mong muốn hoà giải để vợ chồng đoàn tụ. Mặt khác, qua xác minh tại địa phương cũng như thông tin cung cấp từ em trai chị H và con dâu anh T, chị H thì thấy anh T nhiều lần đánh đuổi chị H, chị H đã về L ở từ tháng 7/2024 đến nay, vợ chồng không ai còn quan tâm tới ai. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc chị H xin ly hôn anh T là có căn cứ để chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị H, anh T xác nhận vợ chồng có 02 con chung nhưng đều đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án để buộc chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Xử:
    1. Về quan hệ vợ chồng: Chị Ngô Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
    2. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002060 ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
    3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
    4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang,
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang,
  • - Các đương sự,
  • - UBND xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ngô Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger