|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 12 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung, chia tài sản chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hợp và ông Lương Minh Côn
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Bà Chu Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 13/12/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 285/2024/HNGĐ-ST ngày 29/10/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 27/11/2024, giữa:
-
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1976;
Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
-
Bị đơn: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975;
Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Chị T có đơn xin vắng mặt; anh Q vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Q kết hôn năm 2001, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, chị về gia đình nhà chồng làm dâu đến năm 2004 vợ chồng ra ở giêng, do bố mẹ chồng cho đất nên vợ chồng làm nhà ở giêng, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 10 năm, sau đó đến năm 2014 xẩy ra ra mâu thuẫn, Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, cũng từ năm 2014 đến nay đời sống chung
vợ chồng không hòa hợp và thường xuyên xẩy ra va chạm, tuy sống cùng một nhà nhưng anh Q coi thường chị chửi mắng và coi chị như người giúp việc trong gia đình, chị không có tiếng nói của người vợ và không được tôn trọng, chị nhận thấy tình cảm cũng bị chồng trà đạp, hôn nhân thì không hạnh phúc nên tổn thương cả về thể xác và tinh thần. Thời điểm này vợ chồng ly thân thời gian khá dài không có cơ hội để đoàn tụ, bởi hiện anh Q thường xuyên đi làm ăn xa bỏ bê gia đình, kinh tế làm ăn anh Q không lo toan cho gia đình. Do cuộc sống không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ giải quyết ly cho tôi chấm dứt cuộc sống không còn tình cảm như hiện nay.
Về con chung: Quá trình chung vợ chồng có hai con chung là cháu: Nguyễn Thị H, sinh năm 2002; cháu Nguyễn Trần Bảo A, sinh ngày 31/12/2011. Nay ly hôn con chung thứ nhất đã trưởng thành không đặt ra việc giải quyết người nuôi dưỡng; con chung thứ theo nguyện vọng của con chị đồng ý giao cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng chị và anh Q tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Vợ chồng có đất thuộc thửa số 518, tờ bản đồ 67, diện tích 128m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận QSD đất mang tên Nguyễn Văn Q và Trần Thị Thanh do UBND huyện Đ cấp ngày 17/11/2020, số sơ ri bìa CX 672777. Tài sản trên đất gồm 01 nhà xây cấp 4 và công trình phụ. Chị đề nghị phân chia theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa, chị T có đơn rút yêu cầu phân chia tài sản chung, đề nghị được tự thỏa thuận.
Về nợ chung, khoản cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương xóm T, xã P, anh Q cung cấp thông tin qua hình thức gọi điện thoại trực tiếp có sự chứng kiến của trưởng xóm T, xã P, anh Q trình bầy:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyên, đăng ký tại UBND xã P, huyện Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì đáng kể, anh không hiểu lý do gì chị T có đơn ly hôn nên anh không đồng ý. Trường hợp chị T cương quyết ly hôn anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thị H, sinh năm 2002; cháu Nguyễn Trần Bảo A, sinh ngày 31/12/2011. Trường hợp phải ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con chung Nguyễn Trần Bảo A, anh không đồng ý cho chị T được nuôi con chung, con chung thứ nhất đã trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Anh đề nghị được thỏa thuận không đề nghị giải quyết phân chia.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đại Từ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, 96, 97 và
Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đại diện VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.
Về nội dung: Do cuộc sống không có hạnh phúc,mục đích của hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016, ra bản án với các nội dung sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị T được ly hôn anh Q.
- - Về con chung: Con chung thứ nhất đã trưởng thành; giao con chugn thứ hai cháu Tràn Bảo A1, sinh ngày 31/12/2011 cho anh Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Về cấp dưỡng: không giải quyết do đương sự không yêu cầu.
- - Về tài sản chung: Chị T rút yêu cầu về tài sản chung đề nghị đình chỉ yêu cầu phân chia tài sản chung.
- - Án phí: Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định; Chị T được trả lại án phí về tài sản do rút yêu cầu phân chia.
- - Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụán. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Văn Q có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyện. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, xác định thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
[2.1]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng tới bị đơn nhưng anh Q không chấp hành. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Q vắng mặt không có lý do. Vì vậy, không tiến hành phiên hòa giải được theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần 2, anh Q vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; Chị T cũngcó đơn xin được xét xử vắng mặt. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự trong vụ án.
[2.2]. Quá trình thu thập chứng cứ đối với anh Q: Việc anh Q vắng mặt tại gia đình nhưng đã được giao giấy báo, các văn bản tố tụng của Toà án. Đến cơ sở xóm, cơ sở xóm nơi cư trú của bị đơn cũng xác nhận đã giao các văn bản tố tụng
của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ trực tiếp cho anh Q, anh Q đã nhận theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 178 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.3]. Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T với anh Nguyễn Văn Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2002, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Q, Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù anh Q không đến Tòa án làm việc nhưng thông qua chính quyền địa phương và biên bản làm việc với Tòa án qua số điện thoại liên lạc cá nhân, anh Q thể hiện không đồng ý ly hôn và mong muốn đoàn tụ, do công việc đi làm ăn nên anh không thể đến Tòa án tham gia phiên hòa giải đoàn tụ. Phía anh Q cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là nhỏ nhặt không đến nỗi phải ly hôn đề nghị được đoàn tụ. Việc anh Q đề nghị đoàn tụ trong khi chỉ xuất phát từ một phía. Việc không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ của anh Q là chính đáng, bởi mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xong bản thân chị cả hai không chung sống cùng nhau từ nhiều năm nay. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh Q là phù hợp theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2].Về con chung: Với quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2002; cháu Nguyễn Trần Bảo A, sinh ngày 31/12/2011. Nay ly hôn chị T cũng nhất trí giao con chung thứ hai cho anh Q nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
Hội đồng xét xử thấy, trong quá trình giải quyết vụ án anh Q xác định có hai con chung, con chung thứ nhất đã trưởng thành, anh đề nghị được nuôi con chung thứ hai, không đặt ra việc cấp dưỡng. Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Trần Bảo A thể hiện quan điểm được tiếp tục ở với bố. Do vậy, cần giao con chung thứ hai cho anh Q được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuôi).
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do anh Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị T cho đến khi có yêu cầu là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T được quyền đi lại thăm, chăm sóc các con chung theo quy định của pháp luật.
[3.3]. Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị T đề nghị được phân chia tài sản chung của vợ chồng tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa, chị T có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện phan chia tài
sản chung mà tự vợ chồng thỏa thuận. hội đồng xét xử thấy việc rút yêu cầu đề nghị phân chia tài snar là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu chia tài sản này trong vụ án.
[3.4]. Về khoản nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có nên không đặt ra việc giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước; án phí về yêu cầu chia tài sản chị T không phải chịu, chị T được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6]. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tại phiên toà là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 178, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, 56, Điều 59, Điều 62 và Điều 63, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị T đối với anh Nguyễn Văn Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
-
Về con chung: Con chung thứ nhất đã trưởng thành không đặt ra việc giải quyết người nuôi dưỡng;
Giao con chung thứ hai: cháu Nguyễn Trần Bảo A, sinh ngày 31/12/2011 cho anh Nguyễn Văn Q được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do anh Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị T cho đến khi có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi về cấp dưỡng theo quy định của pháp luật
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Đình chỉ yêu câu chia tài sản chung vợ chồng do chị T1 rút yêu cầu phân chia QSD đất trước khi mở phiên tòa.
- Về nợ chung, cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
-
Về án phí: Chị Trần Thị Thanh P chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, chị T được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, theo biên lai số 0005664 ngày 29/10/2024. Xác nhận chị T đã nộp đủ.
Chị T không phải chịu án phí phân chia tài sản chung, chị T được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp, số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), theo biên lai thu số 0005688 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các bên đương sự tại phiên toà. Báo cho biết các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hà
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét mâu thuẫn vợ chồng không có khả năng đoàn tụ. HĐXX cho ly hôn
