|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày 04-12-2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chu Y.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Còn;
- Ông Nguyễn Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên toà:
Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Hồng Y, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: tổ B, ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: Ông Lê Thanh L, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: tổ A, ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Bà Y và ông L có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 10 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - bà Đặng Thị Hồng Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông L quen biết nhau một thời gian và tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993. Quá trình chung sống không có đăng ký kết hôn. C sống đến năm 2007, giữa bà và ông L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên không còn sống chung. Nay bà Y yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu giải quyết cho bà ly hôn với ông L.
- Về con chung: Bà và ông L có 02 người con chung tên Lê Thị Hồng V, sinh ngày 01/8/1994 và Lê Quốc K, sinh ngày 10/10/2003. Hiện tại, con chung đã thành niên, tự lao động sinh sống được. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: ông bà không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà Y không còn yêu cầu hay trình bày gì khác.
Bị đơn – Ông Lê Thanh L:
Thống nhất với trình bày của bà Y về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông đồng ý đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận ông và bà Y là vợ chồng.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền; Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơnvà bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị:
Về hôn nhân: không công nhận bà Đặng Thị Hồng Y và ông Lê Thanh L là vợ chồng.
Về con chung: có 02 người con chung tên Lê Thị Hồng V, sinh ngày 01/8/1994 và Lê Quốc K, sinh ngày 10/10/2003. Con chung đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: bà Y trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí STHN: bà Đặng Thị Hồng Y phải chịu án phí theo quy định.
- Về yêu cầu khắc phục vi phạm: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Y yêu cầu ly hôn với ông L, ông L cư trú tại xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Y và ông L chung sống như vợ chồng có con chung sinh năm 1995, mặc dù đã có con chung nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần tuyên bố không công nhận là bà Y và ông L là vợ chồng.
[3] Về con chung: Bà Y và ông L có 02 (hai) người con chung tên Lê Thị Hồng V, sinh ngày 01/8/1994 và Lê Quốc K, sinh ngày 10/10/2003. Con chung đã thành niên nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: bà Y không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà Y phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Hồng Y đối với ông Lê Thanh L.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Đặng Thị Hồng Y và ông Lê Thanh L là vợ chồng.
1.2. Về con chung: ghi nhận bà Đặng Thị Hồng Y và ông Lê Thanh L có 02 (hai) con chung tên Lê Thị Hồng V, sinh ngày 01/8/1994 và Lê Quốc K, sinh ngày 10/10/2003. Con chung đã thành niên nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Đặng Thị Hồng Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai số 0012390 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Bà Y đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Lê Thanh L không phải chịu tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Y, ông L có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Thị Chu Y |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận quan hệ vợ chồng
