Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án: 62/2024/HS-PT

Ngày 12 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các thẩm phán. Ông Hoàng Tiến Dũng
Ông Bùi Xuân Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với Bản án hình sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo: Vũ Ngọc K

(tên gọi khác: không); Sinh ngày 18 tháng 01 năm 2007; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ.(Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo được 16 tuổi, 03 tháng 12 ngày). Nơi cư trú: khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn K1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo K: Ông Vũ Văn K1, sinh năm 1978 (là bố đẻ của Bị cáo); Trú tại: khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

- Người bào chữa cho bị cáo K:

  1. Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (vắng mặt).
  2. Ông Tạ Gia L – Luật sư (có mặt);
  3. Bà Nguyễn Thị Kim L1 – Luật sư (có mặt);

Đều thuộc Văn phòng L3 - Đoàn luật sư tỉnh P; Địa chỉ: SN G, tổ F, khu A, phường N, tp V, Phú Thọ.

Bị hại:

  1. Anh Đặng Đức H, sinh ngày 19/4/2006;Trú tại: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Hoài Đ, sinh ngày 05/11/2005; Trú tại: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Đức C, sinh ngày 26/5/2005 (có mặt); Trú tại: khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  2. Anh Nguyễn Hải L2, sinh ngày 14/12/2005 (có mặt). Trú tại: thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  3. Ông Nguyễn Đức H1 (là bố đẻ của H) – vắng mặt, Trú tại: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  4. Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1985 (là mẹ đẻ của Đ) – có mặt. Trú tại: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  5. Anh Đặng Quang N1, sinh năm 2005 (vắng mặt); Trú tại: khu C, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/04/2023, Vũ Ngọc K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HondaWave màu đỏ - đen, được dán bên ngoài nilon màu xanh đen, BKS: 19N1 - 317.11 đến khu vực V thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ chơi cùng bạnlà Nguyễn Hải L2,Khuất Thành Q, Yên Đức N2, Nguyễn Đức M và Trần Vũ T1. Thời điểm này Đặng Quang N1 đang uống nước tại tầng 2 của quán C1 thuộc xã Đ, huyện T thì xảy ra mâu thuẫn và bị Đặng Đức H, Nguyễn Hoài Đ đánh. Đặng Quang N1 đã gọi điện thoại cho Nguyễn Quốc V(sinh năm 2005, thường trú tại xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ) nói là bị đánh tại quán C1, và nhờ V đến đưa về. V thấy vậy, gọi điện thoại cho Trần Vũ T1 (là bạn đang ngồi chơi với nhóm của K) nói là V bị đánh ở quán C1 nhờ T1 đến giúp. T1 sau khi nghe điện thoại, đã bảo cả nhómchơi cùng nhau đi tìm V. Nhóm của T1, khi gặp V thì biết là bạn của V là Đặng Quang N1 bị đánh ở quán C1 nên V rủ nhóm T1 cùng đến quán đón Đặng Quang N1. Khi đến nơi K, L2, V thấy H và Đ có những lời nói xúc phạm, thách thức Đặng Quang N1 và những người trong nhóm của mình nên 3 người này lao vào dùng tay chân đánh H và Đ. Do chủ quán C1 ra can ngăn nên tất cả ra về.

Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của K cùng với Nguyễn Quốc V đứng chơi tại khu vực cầu H thì có thêm Nguyễn Đức C, Trần Anh P (sinh năm 2005, thường trú khu D, xã B, huyện T) và Nguyễn Trung K2 (sinh năm 2008, trú tại khu C, xã Đ, huyện T) tham gia cùng. Lúc này, H và Đ chở nhau trên xe mô tô đi qua đã ném 01 gậy sắt có đường kính 1,5cm, dài 85cm và 01 dao nhọn về phía nhóm K (không gây thương tích cho ai). Thấy vậy, nhóm của K đi 5 đến 6 xe mô tô đuổi theo; K một mình điều khiển xe mô tô của K, C điều khiển xe Vision màu tím chở L2. Không đuổi theo được H và Đ, nhóm của K đi về khu vực trung tâm xã H. Ở đây, mọi người gặp H đi xe mô tô chở Đ đi theo hướng đi xã T, huyện T nên cả nhóm K đuổi theo. Xe mô tô của C chở L2 đi trước, xe của K đi phía sau, những xe còn lại đi vào đường nhỏ sau đó không đuổi theo nữa.

Khi K đi đến khu vực cánh đồng thuộc xã T, huyện T (thời điểm này khoảng 01 giờ sáng ngày 01/5/2023) thì nhìn thấy xe của C chở L2 đang bị xe mô tô của H chở Đ đi trước (xe đi với vận tốc khoảng 20km/h) lạng lách, đánh võng trước đầu xe của C và L2 làm cho xe của C và L2 bị đổ ra đường (không bị thương tích gì). Nên K đã điều khiển xe mô tô tăng ga, vượt qua xe của C, L2 đuổi theo xe của H, Đ với mục đích để đánh. Thấy xe mô tô của K đuổi theo, H đã điều khiển xe mô tô tăng ga chạy theo hướng đi xã T, huyện T. K điều khiển xe mô tô đi với vận tốc khoảng 70km/h đến 80km/h đuổi theo, H cũng đi với tốc độ cao, khi xe đi đến khúc cua trái tỉnh lộ 317C thuộc địa phận khu G, xã T thì xe của H, Đ bị ngã xuống đường gây thương tích. Thấy vậy, K dừng xe đi đến chỗ H và Đ ngã dùng tay đấm, chân đá vào mặt, vào đầu và vào chân Đ 3 đến4 cái.

C, L2 sau khi bị đổ xe, thì tiếp tục điều khiển xe đi theo hướng K đuổi theo H, Đ khi đi được khoảng hơn 800m thì đến vị trí H và Đ ngã xe. C, L2 nhìn thấy K đang dùng tay, chân đấm, đá vào người Đ thì dừng xe đi đến can ngăn. Sau đó K, C, L2 đi về, còn H và Đ được người dân đưa đến Bệnh Viện Q1 - Hà Nội để điều trị. Đến ngày 14/5/2023, Đặng Đức H chuyển đến Bệnh viện B1 để tiếp tục điều trị.

Quá trình điều tra đã tạm giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave - alpha màu trắng đen, đã cũ, BKS: 19L1 - 336.55 của Nguyễn Hoài Đ; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu đỏ - đen, được dán bên ngoài nilon màu xanh đen, đã cũ, BKS: 19N1 - 317.11, kèm theo bản phô tô đăng ký xe mô tô BKS: 19N1 - 317.11 do ông Vũ Văn K1 - SN: 1978, thường trú tại khu T - Thạch Khoán giao nộp; 01 (một) gậy hình trụ tròn bằng kim loại màu trắng đường kính 1,5 cm, dài 85 cm, do Nguyễn Hải L2 giao nộp; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng đã cũ, bên trong lắp sim số 0396.116.226 do Đặng Quang N1 giao nộp.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòaVũ Ngọc K khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

2. Các vấn đề khác của vụ án:

Ngày 23/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (sau đây viết tắt là CSĐT) Công an huyện T đã ra quyết định Trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Đức H và Nguyễn Hoài Đ. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 136/KLTTCT/TTPY và 137/KLTTCT/TTPY ngày 02/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận:

* Đối với Đặng Đức H:

“Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Đặng Đức H tại thời điểm giám định là 37% (ba mươi bảy phần trăm).

Cơ chế hình thành vết thương và vật gây nên thương tích cho cháu Đặng Đức H:

  • + Máu tụ dưới màng cứng bán cầu bên. Tổn thương đụng dập nhu mô não thùy trán hai bên. Xuất huyết dưới nhện bán cầu trái: Do tác động của vật cứng gây nên.
  • + Tại thời điểm giám định sưng nề vùng đỉnh chẩm, xây sát da vùng trán, quanh mi mắt bên phải, cánh mũi phải, môi trên, lưng nay không để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không xác định cơ chế gây chấn thương”.

* Đối với Nguyễn Hoài Đ:

“Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Nguyễn Hoài Đ tại thời điểm giảm định là 35% (Ba mươi lăm phần trăm).

Cơ chế hình thành vết thương và vật gây nên thương tích cho cháu Nguyễn Hoài Đ:

  • + Xẹp thân đốt sống ngực D4 độ II: Do tác động của vật cứng gây nên.
  • + Gãy đầu dưới hai xương cẳng tay phải: Do tác động với vật cứng gây nên.
  • + Vết sẹo cột sống ngực: Do bác sỹ làm phẫu thuật để điều trị”.

Ngày 04/7/2024, Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh P có văn bản số: 72/CV-TTPY v/v giải thích bản kết luận giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích đã xác định: “Khái niệm vật cứng là những vật: Không phải dạng lỏng, không phải dạng khí... Thường gặp trong tự nhiên, trong sinh hoạt hàng ngày ví dụ: Tay của con người (nắm đấu, khủy tay...), chân của con người (đầu gối, gót chân...), bàn ghế, cây que, cây gậy (gỗ, tre, sắt...), côn (gỗ, sắt), hòn đất, hòn đá, mặt đường nhựa, đường bê tông, đường đất... Tay, chân của con người là vật cứng. Do vậy, thương tích của anh Nguyễn Hoài Đ có thể một trong các vật cứng nêu trên tác động vào cơ thể với một lực đủ mạnh”.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 01/9/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự. Ngày 04/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Vũ Ngọc K3 tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm b khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS năm 2015). Quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn phê chuẩn.

- Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Hoài Đ yêu cầu bị cáo Vũ Ngọc K bồi thường số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng), anh Đặng Đức H yêu cầu Bị cáo K bồi thường số tiền 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng).

- Cơ quan điều tra đã xác minh về tài sản, thu nhập đối với Vũ Ngọc K, xác định: Bị cáo hiện sống cùng bố mẹ tại ngôi nhà mái bằng diện tích 100m2 tại khu T, xã T, huyện T. Toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Vũ Văn K1 (bố đẻ bị cáo). Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm, sống phụ thuộc vào bố mẹ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của BLHS năm 2015;

- Xử phạt Bị cáo Vũ Ngọc K 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt Bị cáo đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 586 và 590 của Bộ luật dân sự.

Công nhận sự thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe giữa Người đại diện hợp pháp của bị cáo K với bị hại Đ, bị hại H: Ông K1 thay bị cáo K bồi thường cho B hại Đ số tiền 60.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại H số tiền 70.000.000 đồng. Xác nhận, ông K1 đã thanh toán cho bị hại Đ và bị hại H đủ số tiền trên; Đ và H không yêu cầu bị cáo K phải bồi thường thiệt hại nào khác.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đúng quy định của pháp luật.

Kháng nghị số 221 /KN-VKS-P7 ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm. Cụ thể: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ theo hướng buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm: Không phải không có nguyên cớ để dẫn đến bị cáo phạm tội nên phải xem xét có một phần lỗi của bị hại. Bị cáo và gia đình tích cực bồi thường và đã bồi thường xong, bị hại đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo tuổi đời còn trẻ...đề nghị HĐXX giữ nguyên mức hình phạt đã tuyên cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật hình sự. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ theo hướng áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của BLHS năm 2015; Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc K 36 đến 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ làm trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 01 giờ sáng ngày 01/5/2023, tại khu vực đường liên xã thuộc khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Bị cáo Vũ Ngọc K đã có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, đen BKS: 19N1 - 317.11 dồn đuổi theo xe mô tô do Đặng Đức H điều khiển chở phía sau Nguyễn Hoài Đ mục đích để đánh thương tích cho H và Đ. Quá trình dồn đuổi, do bị K dồn đuổi với tốc độ lớn, nên xe mô tô do Đặng Đức H điều khiển chỉ Đ phía sau bị đổ ngã xuống đường. Sau khi H và Đ bị ngã xe, bị cáo K đi đến dùng tay đấm 02 – 03 cái. Hậu quả: Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 136/KLTTCT/TTPY và số 137/KLTTCT/TTPY ngày 02/8/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận: Đối với Đặng Đức H, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 37% (ba mươi bảy phần trăm); Đối với Nguyễn Hoài Đ, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 35% (ba mươi lăm phần trăm).

Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử bị cáo Vũ Ngọc K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Chỉ vì một nguyên cớ nhỏ nhặt, bị cáo Vũ Ngọc K đã sử dụng xe mô tô chạy với tốc độ cao, dồn đuổi theo xe mô tô do Đặng Đức H điều khiển chở phía sau là Nguyễn Hoài Đ, mục đích để đánh gây thương tích cho H và Đ. Quá trình bị dồn đuổi, do bị K dồn đuổi với tốc độ lớn, nên H và Đ bị ngã xe. Sau khi H và Đ bị ngã xe, bị cáo K còn đi đến dùng tay đấm 02-03 cái vào đầu, dùng chân đá 01 cái vào mặt, vào chân Đ. Hành vi của bị cáo thể hiện “Tính côn đồ”, coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ của người khác. Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định hành vi của bị cáo K “Phạm tội có tính chất côn đồ” là phù hợp.

[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Phú Thọ, HĐXX thấy:

Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc K đã gây thương tích cho Đặng Đức H với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 37% và Nguyễn Hoài Đ với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 35% và bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Có tính côn đồ”, Toà án cấp sơ thẩm chỉ xét xử đối với bị cáo Vũ Ngọc K ở điểm b khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%”; và áp dụng tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự với tính tình tiết “Phạm tội có tính chất côn đồ” là không đúng quy định của Bộ luật hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a);

...;

i) Có tính chất côn đồ;

...;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm:

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a);

...;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Ngọc K đã gây thương tích cho 02 người, với tỷ lệ thương tích 35% và 37% và bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Có tính chất côn đồ”, nên cấp phúc thẩm phải xét xử bị cáo theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự như kháng nghị là đúng quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Phú Thọ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ để áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Tội mà Bị cáo phạm là tội rất nghiêm trọng. Chỉ vì bực tức với thái độ của các bị hại mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm với mục đích gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, coi thường sức khỏe của người khác và coi thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 38, khoản 6 Điều 91 của BLHS năm 2015 xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn như vậy mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo có nhân thân tốt, có trình độ học vấn thấp, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị hại có một phần lỗi; có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của BLHS năm 2015 và các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên để quyết định hình phạt.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận nhưng cần xem xét giảm nhẹ hơn về hình phạt.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo thể hiện quan điểm nhân đạo và có cơ sở pháp lý, nên chấp nhận để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như nhận định trên.

[5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Phú Thọ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

[2] Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của BLHS năm 2015;

Xử phạt Bị cáo Vũ Ngọc K 33(ba mươi ba) thángtù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Ngọc K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND H. Thanh Sơn;
  • - VKSND H. Thanh Sơn;
  • - Công an H. Thanh Sơn;
  • - Chi cục THADS H. Thanh Sơn;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HS; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 62/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc Khánh - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger