Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày: 28 – 10 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Duy Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Tuấn.

2/ Ông Đào Văn Hiến.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Cán bộ Tòa án huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 10 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST - HS, ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên Nguyễn Văn H (Hiểu muỗi), sinh năm 1993; nơi cư trú ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp không; trình độ học vấn 10/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960, con bà Phạm Thị K (chết); vợ, con không có; tiền án bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 19/2022/HS-ST ngày 10-3-2022. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28-10-2022, chấp hành xong án phí ngày 11-6-2022; tiền sự không, nhân thân bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 09 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 26/2015/HSST ngày 28-5-2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23-12-2015. Chấp hành xong án phí ngày 09-9-2015; Bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 16 tháng theo Quyết định số 33/2018/QĐ-TA ngày 22-11-2018. Chấp hành xong ngày 25-11-2019; tạm giữ ngày 06/6/2024, tạm giam ngày 15/6/024. Bị cáo H đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ (bị cáo H có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1997; nơi cư trú ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp không; trình độ học vấn 11/12; dân tộc kinh; giới tính nữ; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1976, con bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1976; chồng đã ly hôn, con có 02 con (con lớn nhất sinh 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2023); tiền án không; tiền sự không; tạm giữ không, tạm giam không. Bị cáo T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo T có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Văn P, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Người làm chứng:

Nguyễn Chí Vinh Q, sinh năm 2011 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Thị Mai T là bạn bè của nhau và đều là người nghiện ma túy.

Vào ngày 01-6-2024, bị cáo H đến thành phố H, tỉnh Đồng Tháp gặp một người tên T2 (chưa rõ nhân thân) để mua ma túy đá, đựng trong túi nylon nắp kẹp màu đỏ, với giá 500.000 đồng. Hiểu sau đó mang ma túy về nhà tại ấp M, xã M, sử dụng một phần, còn lại chia thành hai túi nylon nhỏ. Do lo sợ gia đình phát hiện, H đổ tất cả số ma túy còn lại vào một nỏ thủy tinh để cất giấu.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 06-6-2024, H mang ma túy và dụng cụ đến nhà bị cáo Nguyễn Thị Mai T ở ấp M, xã M, huyện T. Tại đây, H rủ T sử dụng ma túy và T đồng ý. Thời điểm đó, trong nhà còn có em trai của T là Nguyễn Chí Vinh Q. Hiểu dự định sử dụng ma túy tại phòng khách, nhưng T ngăn lại và yêu cầu H vào phòng ngủ của cha mình là ông Nguyễn Văn P, để tránh sự chú ý của Q. T mở máy lạnh trong phòng ngủ cho Hiểu, sau đó ra ngoài ăn cơm. Bên trong phòng ngủ, H lấy bộ dụng cụ từ trong ba lô để xuống nền gạch, gắn nỏ thủy tinh có chứa ma túy rồi dùng bật lửa đốt nóng ma túy trong nỏ để hút. Hút được vài hơi, H gọi T vào cùng sử dụng. T tự đốt nóng ma túy trong nỏ và hút ba hơi. Sau đó, T ra ngoài tiếp khách, còn H tiếp tục sử dụng ma túy trong phòng khóa kín.

Nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân, vào lúc 9 giờ 30 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy phối hợp với Công an xã M tiến hành kiểm tra, phát hiện H đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 nỏ thủy tinh chứa 0,084 gam Methamphetamine và 0,025 gam ma túy cùng loại trong 03 túi nylon của bị cáo H để trong phòng ngủ của ông Nguyễn Văn P (theo Kết luận giám định số 747/KL-KTHS ngày 10-6-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ), cùng nhiều vật chứng liên quan.

Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể ngày 06-6-2024, kết quả Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Mai T đều dương tính với M.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ, xử lý các vật chứng và tài sản sau:

  • - 01 nỏ thủy tinh chứa chất rắn màu nâu được niêm phong bì thư ký hiệu A1, 03 túi nylon chứa tinh thể rắn màu trắng được niêm phong bì thư ký hiệu A2 (Tinh thể rắn màu nâu và tinh thể rắn màu trắng đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
  • - 01 bình nhựa trong suốt, có dán nhãn màu vàng có chữ STING, phía trên có nấp đậy màu đen khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ được nối với 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 đầu được nối với ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa có vỏ bằng nhựa màu đỏ; 01 bật lửa bằng nhựa trong suốt là công cụ dùng vào việc phạm tội.
  • - 01 ba lô màu xanh của Nguyễn Văn H không yêu cầu nhận lại do không còn giá trị sử dụng.

Tại Bản Cáo trạng số: 58/CT - VKSTM, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát huyện T, đã truy tố bị cáo H, bị cáo T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo H, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát huyện T thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh:

  • + Căn cứ khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Nguyễn Thị Mai T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Căn cứ Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo H từ 03 đến 04 năm tù.

Căn cứ Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T từ 02 đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 nỏ thủy tinh chứa chất rắn màu nâu được niêm phong bì thư ký hiệu A1, 03 túi nylon chứa tinh thể rắn màu trắng được niêm phong bì thư ký hiệu A2.
  • - 01 bình nhựa trong suốt, có dán nhãn màu vàng có chữ STING, phía trên có nấp đậy màu đen khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ được nối với 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 đầu được nối với ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa có vỏ bằng nhựa màu đỏ; 01 bật lửa bằng nhựa trong suốt.
  • - 01 ba lô màu xanh.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và anh Nguyễn Chí Vinh Q vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng quy định.

Về nội dung:

[3] Tại phiên tòa, bị cáo H, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản Cáo trạng số 58/CT – VKSTM, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi phạm tội.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 06-6-2024, H mang ma túy và dụng cụ đến nhà bị cáo T. Tại đây, H rủ T sử dụng ma túy và T đồng ý.

T mở máy lạnh trong phòng ngủ của cha ruột là ông Nguyễn Văn P cho H, sau đó ra ngoài ăn cơm. Bên trong phòng ngủ, H lấy bộ dụng cụ từ trong ba lô để xuống nền gạch, gắn nỏ thủy tinh có chứa ma túy rồi dùng bật lửa đốt nóng ma túy trong nỏ để hút. Hút được vài hơi, H gọi T vào cùng sử dụng. T tự đốt nóng ma túy trong nỏ và hút ba hơi. Sau đó, T ra ngoài tiếp khách, còn H tiếp tục sử dụng ma túy trong phòng khóa kín. Sau đó, bị lực lượng công an bắt quả tang khi đang sử dụng ma túy.

Bị cáo H, bị cáo T thống nhất Bản kết luận giám định số 747/KL-KTHS ngày 10-6-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ.

Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố bị cáo H, bị cáo T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...”

[4] Hành vi của bị cáo H, bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy và gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Do đó, việc đưa các bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, nhằm cách ly các bị cáo một thời gian nhất định, để các bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Đối với hành vi tàng trữ 0,025 gam ma túy loại Methamphetamine, do bị cáo Nguyễn Văn H không có tiền án, tiền sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và khối lượng ma túy bị thu giữ không đủ định lượng cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên không xem xét xử lý về tội này.

[8] Đối với 0,084 gam Methamphetamine trong nỏ thủy tinh, khối lượng ma túy ít và đang trong quá trình sử dụng, chưa kịp tiêu thụ hết thì bị phát hiện, ngăn chặn. Do đó, không lấy khối lượng ma túy này xem xét xử lý về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[9] Về nguồn gốc ma túy, do chưa xác định được nhân thân của người tên T2 bán ma túy cho H, vụ việc sẽ tiếp tục được điều tra xử lý khi có căn cứ.

[10] Đối với ông Nguyễn Văn P, tại thời điểm xảy ra vụ án, ông không biết các bị cáo tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy tại nơi ở của mình, do đó không xem xét xử lý.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Mai T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù.

Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo H bị tạm giữ ngày 06/6/2024.

Căn cứ Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mai T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo T chấp hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 nỏ thủy tinh chứa chất rắn màu nâu được niêm phong bì thư ký hiệu A1, 03 túi nylon chứa tinh thể rắn màu trắng được niêm phong bì thư ký hiệu A2; Tịch thu tiêu hủy 01 bình nhựa trong suốt, có dán nhãn màu vàng có chữ STING, phía trên có nấp đậy màu đen khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ được nối với 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 đầu được nối với ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa có vỏ bằng nhựa màu đỏ; 01 bật lửa bằng nhựa trong suốt và 01 ba lô màu xanh.

5. Về án phí:

Áp dụng Điều 23, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Mai T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh, Huyện;
  • - TAND Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Duy Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van Hieu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger