Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐƯỜNG

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 15 tháng 10 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Thái Dũng, ông Tẩn A Nao

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hóa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hữu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Vàng Văn L, tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh ngày 10/01/1974; Nơi sinh: Huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Lào; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Vàng Văn K, đã chết và bà Lò Thị X, đã chết; Bị cáo có vợ là Lò Thị P, sinh năm 1974 và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu từ ngày 06/5/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh L. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị P, sinh năm 1974. Địa chỉ: Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 06/5/2024 bị cáo Vàng Văn L điều khiển xe mô tô BKS: 25-F3 9723 đi từ nơi ở của mình tại bản C, xã N, huyện T đến xã S, huyện T để tìm mua H sử dụng cho bản thân (xe mô tô là tài sản chung của Vàng Văn L và Lò Thị P). Khi đi đến bản Chu Va 8, xã S, huyện T, L gặp một người nam giới dân tộc mông, khoảng 40 tuổi đang ngồi cạnh đường nhìn giống người nghiện ma túy, gặp người nam giới L nhờ người này mua hộ H1 và đưa cho người nam giới này số tiền 500.000 đồng, người nam giới đồng ý cầm tiền L đưa và đi về hướng bản Chu Va 8 còn L đứng đợi ở đây. Khoảng 20 phút sau người nam giới đi đến đưa cho L 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh giấy trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng. Mua được H1, L cầm trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà còn người nam giới mua hộ H1 cho L đi đâu làm gì L không biết. Vào hồi 12 giờ 36 phút cùng ngày khi bị cáo đi đến ngã ba liên ngành thuộc bản T, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu thì gặp tổ công tác của Công an huyện T, gặp tổ công tác Vàng Văn L thả gói Heroine đang tàng trữ trên tay trái xuống mặt đường nhựa nhằm phi tang vật chứng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Kết luận giám định số 28/KLGĐ ngày 06/5/2024 của giám định viên theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 531/KL - KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh L đã khẳng đinh: 01 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Văn L có khối lượng 1,08 gam; là chất ma túy, loại: Heroine.

Bản cáo trạng số: 45/CT-VKSTĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vàng Văn Liên T 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 0,9 gam Heroine còn lại sau giám định sau khi đã trích 0,18 gam Heroine đi giám định không hoàn lại; 01 mảnh giấy trắng, 01 túi nilon, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER GRAVITA, BKS: 25F3-9723, số khung RLCJ5B9608Y023609, số máy 5B96-023609 thu giữ của Vàng Văn L

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xem xét trả lại cho gia đình bị cáo 01 xe máy là phương tiện phạm tội do đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo do sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho gia đình 01 xe mô tô là phương tiện phạm tội do là tài sản chung của vợ chồng.

Bị cáo, người bào chữa không tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp. Hành vi của người bào chữa cho bị cáo là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 12 giờ 36 phút, ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại khu vực ngã ba liên ngành thuộc bản T, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Vàng Văn L đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 1,08 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, phải chịu trách nhiệm hình sự do mình đã gây ra. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, đặc biệt tại địa phương bị cáo sinh sống, làm việc. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận. Đối với quan điểm đề nghị của người bào chữa về hình phạt là chưa phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là địa bàn bị cáo sinh sống.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thu nhập thấp, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên khó có khả năng thi hành hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,9 gam Heroine còn lại sau giám định, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy trắng, 01 túi nilon cần tịch thu tiêu hủy do là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER GRAVITA, BKS: 25F3-9723, số khung RLCJ5B9608Y023609, số máy 5B96 - 023609 thu giữ của Vàng Văn L là phương tiện phạm tội nên tịch thu bán sung quỹ nhà nước.

Đối với đề nghị của người bào chữa và của chị Lò Thị P xin lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER GRAVITA, BKS: 25F3-9723, số khung RLCJ5B9608Y023609, số máy 5B96 - 023609 không được chấp nhận do đây là tài sản chung giữa chị P và bị cáo và là phương tiện phạm tội. Chị P có quyền yêu cầu bị cáo thực hiện trách nhiệm dân sự đối với tài sản chung của vợ chồng đối với chị.

[5] Về án phí: Bị cáo sinh sống ở xã đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội và tại phiên tòa xin được miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

  1. Tuyên bố bị cáo Vàng Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Xử phạt bị cáo Vàng Văn L 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2024.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,9 gam Heroine còn lại sau giám định không hoàn lại, 01 mảnh giấy trắng, 01 túi nilon, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER GRAVITA, BKS: 25F3- 9723, số khung RLCJ5B9608Y023609, số máy 5B96-023609 thu giữ của Vàng Văn L.
  4. Án phí: Bị cáo được miễn nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tam Đường;
  • - CQCSĐTCA huyện Tam Đường;
  • - CQTHAHS CA H.Tam Đường;
  • - CCTHADS huyện Tam Đường;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ; NBC;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Trung Tá

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger