|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HS-ST
Ngày: 24 – 9 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Thương.
Ông Hồ Văn Sơn.
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Cao Quốc Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: Triều H1), sinh năm 1991 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; có vợ là Lưu Thị Thu T1, sinh năm 1997 (chưa đăng ký kết hôn), có 01 con sinh năm 2024.
Tiền án: Tại bản án số 11/2022/HS-ST ngày 03/03/2022, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
Ngày 07/09/2016, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 16 tháng.
Ngày 18/4/2019, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Vũ Thị H2, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Số E, đường số E, thôn D, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Trần Thị N, sinh năm 1967 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Số A, đường số F, thôn F, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Lưu Thị G, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Số I, đường H, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng:
- + Nguyễn Văn H3, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Thôn E, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Mai Tất D, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Số E, đường số E, thôn D, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Nguyễn Hải D1, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Số A, đường số C, thôn C, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 20/8/2023 đến ngày 29/8/2023, Nguyễn Văn H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã V, thị trấn V, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào rạng sáng ngày 20/8/2023, Nguyễn Văn H đã lén lút đột nhập vào nhà bà Vũ Thị H2 tại số A, đường T, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ lấy trộm 01 cặp lục bình bằng gỗ màu nâu đỏ, cao 35cm, đường kính đầu và đáy 10cm. Sau đó, H đem 01 cặp lục bình bằng gỗ này đến nhà Nguyễn Hải D1 để nhờ D1 xịt PU. D1 đồng ý và đã xịt PU cặp lục bình này cho H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành thu giữ tang vật và trả lại cho bà Vũ Thị H2.
Tại kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐG ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Đ kết luận: 01 cặp lục bình bằng gỗ màu nâu đỏ, cao 35cm, đường kính đầu và đáy 10cm có giá là 1.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng giữa đêm ngày 25/8/2023, Nguyễn Văn H đi ngang qua nhà bà Trần Thị N tại số A, đường F, thôn F, xã V, huyện Đ. Thấy nhà bà N không đóng cửa nên H lén lút đột nhập vào nhà lấy trộm 01 cặp lục bình làm bằng gỗ ngũ sắc, cao khoảng 45cm. Sau đó, H đem 01 cặp lục bình làm bằng gỗ ngũ sắc này đến nhà Nguyễn Hải D1 để nhờ D1 xịt PU nhưng D1 không đồng ý. H để nhờ cặp lục bình này tại nhà D1. Khoảng ba ngày sau, H đến nhà D1 lấy cặp lục bình làm bằng gỗ ngũ sắc đem đi cất giấu dưới cống nước tại khu vực rẫy cây cao su thuộc thôn F, xã V. Vài ngày sau, H đến lấy cặp lục bình này thì phát hiện đã không còn.
Tại kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐG ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Đ kết luận: 01 cặp lục bình bằng gỗ ngũ sắc, cao khoảng 45cm, đường kính đầu và đáy là 18cm có giá là 700.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 04 giờ ngày 29/8/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô loại Wave biển số: 60M1 – 6478 (bà Vũ Thị T là chủ sở hữu, bà T không biết H lấy xe đi trộm cắp tài sản) đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước nhà bà Lưu Thị G tại thôn D, xã V, huyện Đ thì H phát hiện trong nhà không có người ở nên H lén lút đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. Tại đây, H phát hiện và lấy trộm 01 bếp ga hiệu Rinnai và 01 bình ga hiệu VT GAZ. H dùng xe mô tô loại Wave chở 01 bếp ga hiệu Rinnai và 01 bình ga hiệu VT GAZ về nhà ông Mai Tất D tại thôn D, xã V, huyện Đ cất giấu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành thu giữ tang vật và trả lại cho bà Lưu Thị Gấm
Tại kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐG ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Đ kết luận:
- - Giá một bếp ga hiệu Rinnai sử dụng từ năm 2021 là 850.000 đồng
- - Giá một bình ga hiệu VT-GAS, khối lượng 12,6kg là 1.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản cần định giá là 1.850.000 đồng.
Qua xác minh tiền án tiền sự xác định, tại bản án số 11/2022/HS-ST ngày 03/03/2022, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn H chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023, chưa được xóa án tích.
Bị hại Vũ Thị H2, Lưu Thị G trình bày: Đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Bị hại Trần Thị N trình bày: Đã được bị cáo bồi thường nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 59/CT-VKSÐL-HS ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình chuẩn bị xét xử, các bị hại Vũ Thị H2, Lưu Thị G và Trần Thị N đã làm đơn xin xét xử vắng mặt. Về hình sự, các bị hại cho rằng bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù.
- - Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã được bồi thường và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không buộc bị cáo phải bồi thường.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu bồi thường về dân sự, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với đơn trình báo; biên bản sự việc; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; biên bản nhận dạng; biên bản đối chất; lời khai của bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Ngày 20/8/2023, Nguyễn Văn H lén lút trộm cắp 01 cặp lục bình bằng gỗ màu nâu đỏ, cao 35cm, đường kính đầu và đáy 10cm có giá trị 1.000.000 đồng của bà Vũ Thị H2 tại khu phố C, thị trấn V, huyện Đ. Ngày 25/8/2023, Nguyễn Văn H lén lút trộm cắp 01 cặp lục bình làm bằng gỗ ngũ sắc, cao khoảng 45cm có giá trị 700.000 đồng của bà Trần Thị N tại thôn F, xã V, huyện Đ. Ngày 29/8/2023, Nguyễn Văn H lén lút trộm cắp 01 bếp ga hiệu Rinnai và 01 bình ga hiệu VT GAZ có giá trị 1.850.000 đồng của bà Lưu Thị G tại thôn D, xã V, huyện Đ. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.550.000 đồng.
Tại bản án số 11/2022/HS-ST ngày 03/03/2022, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn H chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023, chưa được xóa án tích.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 3 lần thực hiện trộm cắp tài sản, cả 3 lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho bị hại; được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; được tặng giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Đ vì đã cứu 02 em nhỏ bị bỏ rơi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án.
[2.4] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.
[3] Về xử lý vật chứng: 01 bếp ga hiệu Rinnai và 01 bình ga hiệu VT-GAS, khối lượng 12,6kg; 01 cặp lục bình bằng gỗ, màu đỏ cao khoảng 35cm, đường kính đầu và đáy là 10cm là tài sản của bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã được bồi thường, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường về dân sự.
[5] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 6 (S) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 24/9/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H "Trộm cắp tài sản"
