Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 23 - 09 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Oanh
Ông Lăng Đức Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2024 và thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 635/2024/TB-TA ngày 20/9/2023 đối với bị cáo:

Bàn Văn N, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1999 tại huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 3/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn T và bà Đặng Thị P; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1979 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. (Có mặt)

- Bị hại: anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981 và vợ là chị Lăng Thị Đ, sinh năm 1982; cùng trú tại thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).

- Người làm chứng: anh Vương Văn A, chị Nguyễn Thị G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 07/5/2024 Bàn Văn N, đi bộ một mình theo đường Quốc lộ 279 hướng xã L đi P, huyện B. Khi đến khu vực xã K, huyện B, N đi dọc theo đường vào thôn N. Tại đây Nguyên phát hiện cạnh đường bê tông khoảng 10 mét phía bên tay phải hướng từ ngoài vào có 01 (một) con trâu đực, màu lông đen được buộc trong chuồng của gia đình anh Nguyễn Văn T1 (cách ngôi nhà gia đình anh T1 khoảng 70 mét), quan sát xung quanh không thấy có nhà dân ở gần và không có người nên N nảy sinh ý định trộm con trâu đem đi bán để lấy tiền tiêu xài. Do trời ban ngày không thể lấy trộm trâu được nên N tiếp tục đi theo đường bê tông vào bên trong, khi thấy một người đàn ông (N không biết tên tuổi), N hỏi người đàn ông đó biết ai mua trâu không thì được người đàn ông trên cho số điện thoại 0988.261.xxx của anh Vương Văn A, sinh năm 1987, trú tại thôn M, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang là người mua trâu. Sau khi xin được số điện thoại người mua trâu N đi bộ ra ngoài đường nhựa rồi dùng điện thoại của mình gọi cho anh A hỏi "có mua trâu không", anh A trả lời "có mua, dắt lên đây", N hỏi anh A "nhà ở đâu", anh A nói "nhà cạnh đường gần lò gạch cứ dắt xuống A ở nhà đợi". Sau khi tìm được người mua trâu N ngồi cạnh đường chờ trời tối. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày N đi bộ quay lại khu vực chuồng trâu ở thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang, khi đến nơi N quan sát xung quanh thấy không có người, N đi vào trong chuồng thấy 01 (một) con trâu có xỏ dây thừng một đầu ở mũi trâu, đầu dây còn lại buộc vào cột của chuồng trâu, N dùng hai tay cởi đầu dây buộc ở cột chuồng trâu rồi dắt bộ con trâu đi theo đường bê tông thôn N ra ngoài xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang. Do đợi từ chiều anh A không thấy N mang trâu ra bán nên đã gọi điện thoại cho N hỏi "có phải lúc chiều bảo bán trâu không", N trả lời "đúng rồi, đang dắt ra", anh A nói "đứng ở cạnh đường đợi". Khi ra đến địa phận thôn M, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang, N thấy anh A đứng đợi, anh A hỏi N "bán trâu à", N trả lời "ừ", anh A bảo N dắt trâu vào trong sân để xem, sau đó anh A hỏi N "trâu lấy ở đâu về", N nói "mua ở trong này một con không đủ để thuê xe ô tô chở về nên muốn bán", anh A hỏi "bán giá bao nhiêu", N trả lời "10.000.000 đồng", anh A trả Nguyên 8.000.000 đồng, sau đó N mặc cả với anh A là 8.500.000 đồng thì bán, anh A đồng ý. Do nghi ngờ con trâu N đem đến bán là do trộm cắp mà có anh A đã dùng điện thoại của mình quay video và phát trực tiếp lên ứng dụng facebook để cho mọi người biết việc có người mang trâu đi bán và đưa cho N 1.000.000 đồng gồm 05 (năm) tờ T2 mệnh giá 200.000 đồng nói là tiền đặt cọc, N cầm tiền rồi đút vào túi quần bên phải của mình, sau đó anh A nói chuyện với N để kéo dài thời gian rồi thông báo cho Công an xã K, huyện B đến để xác minh. Khi Công an xã K đến làm việc đã xác định con trâu N mang bán là tài sản do trộm cắp mà có nên đã tiến hành lập biên bản sự việc và bắt quả tang đối với N về hành vi trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyên khai nhận con trâu trên Nguyên lấy trộm của nhà dân trong thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: Tại thời điểm tháng 5/2024 01 (Một) Con trâu đực, màu lông đen, được 01 năm 4 tháng tuổi, hai sừng có chiều dài 23cm có trị giá 14.170.000₫ (Mười bốn triệu một trăm bẩy mươi nghìn đồng).

Ngày 28/5/2024 Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số: 405/QĐ-CSĐT, Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T, giám định: Kỹ thuật số và điện tử đối với 05 (Năm) Tệp video mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thu giữ được vào ngày 09/5/2024.

Tại bản kết luận giám định số: 752/KL- KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp video gửi giám định; Đặc điểm về người, nội dung diễn biến sự việc, hành động của người có liên quan trong tệp video gửi giám định được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo.

Ngày 05/7/2024 Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 485/QĐ-CSĐT, Trưng cầu Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc giám định: Nội trú pháp y tâm thần đối với Bàn Văn N.

Tại bản kết luận giám định số: 113/KLGĐ ngày 26/7/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận: 'Bàn Văn N, sinh năm 1999, trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển Tâm thần nhẹ có mã F70 (Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi); Tại thời điểm thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản ngày 07/5/2024 Bàn Văn N bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển Tâm thần nhẹ. Bàn Văn N hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi; Hiện tại (thời điểm giám định) Bàn Văn N bị bệnh tâm thần: Chậm phát triển Tâm thần nhẹ. Bàn Văn N hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi".

Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 55/CT-VKSBQ ngày 22/08/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Bàn Văn N về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Bàn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, các điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Bàn Văn N từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị hại trong giai đoạn điều tra: Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã được trả lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát, do bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng thời đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa những lỗi lầm đã mắc phải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên của huyện B, tỉnh Hà Giang trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: tại phiên tòa bị hại vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt; những người làm chứng vắng mặt không có lí do. Căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Bàn Văn N tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, vật chứng của vụ án, tài liệu hiện trường, biên bản họp định giá tài sản và bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản, các kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Bàn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, có nội dung như sau: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Viện kiểm sát huyện B, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương. Trị giá tài sản bị cáo đã trộm cắp là 14.170.000₫ (Mười bốn triệu một trăm bẩy mươi nghìn đồng), đối tượng trộm cắp là con trâu là tài sản có giá trị lớn đối với người nông dân, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Do đó Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, như vậy mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa chung.

[7] Bị cáo không có thu nhập ổn định và không có điều kiện về tài sản. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng gồm 01 (Một) con trâu đực, màu lông đen, được 01 năm 4 tháng tuổi, hai sừng có chiều dài 23cm là tài sản của gia đình anh Nguyễn Văn T1 bị mất cắp; số tiền 1.000.000 đồng là tài sản anh Vương Văn A, quá trình điều tra xác định số tiền trên anh A không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu. Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm. Vật chứng còn lại là điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA của bị cáo sử dụng để giao dịch bán con trâu trộm cắp mà có nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm i, q, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bàn Văn N 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 08/5/2024).

3. Về xử lý vật chứng: tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA (trắng đen), bàn phím bằng nhựa màu đen, vỏ nhựa trước màu xanh, vỏ ốp sau màu đen có số IMEI 01 là 357745109760; IMEI 2 là 357752101760986; sim điện thoại có số 0336.088.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2024 giữa cơ quan Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).

4. Về án phí: Bị cáo Bàn Văn N được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Công an huyện Bắc Quang (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Hồng Quang, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Lưu HS, bộ phận.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hải Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Oanh

Lăng Đức Quang

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bàn Văn Ng Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger