|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20 tháng 9 năm 2024
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Quang
Bà Phan Phương Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành– Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 về về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Trần Quang H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Chị T, anh H đều vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và nội dung tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày:
Chị và anh Trần Quang H tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 27/7/2011 có được đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, quan điểm bất đồng về cách sống, cách nuôi dạy con chung... Anh H còn thường xuyên uống rượu say và mỗi khi say thì thường chửi bới, đánh đập chị. Khi vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn cũng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không thể giải quyết được mâu thuẫn. Vì không thể tiếp tục sống với anh H được nữa nên từ tháng 3/2024 cho đến nay chị và anh H đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị đi làm để có thêm tiền nuôi các con ăn học những ngày được nghỉ chị về quê tại Tuyên Quang không dám về nhà chồng vì rất sợ anh H. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn nữa, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 28/7/2024 và cháu Trần Nam K, sinh ngày 26/10/2017. Sau khi ly hôn chị có nguyên vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Quang H nhưng anh H vắng mặt tại phiên họp và hòa giải. Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại xã B và làm việc với bị đơn là anh Trần Quang H. Kết quả xác minh và lời khai của anh H hoàn toàn phù hợp với lời khai của nguyên đơn là chị Lê Thị T về quan hệ hôn nhân, con chung. Nội dung lời khai của anh Trần Quang H xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa trầm trọng, anh không hiểu lý do tại sao từ tháng 2/2024 chị T đi làm và không liên lạc với anh nên vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Tuy nhiên, anh vẫn còn tình cảm với chị T và nguyện vọng của anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung. Trường hợp chị T vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung, anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu L và cháu K vì hiện các con anh đang được bố mẹ anh hỗ trợ chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị T đi làm có thường xuyên liên lạc, quan tâm đến các con và gửi tiền về cho bố mẹ anh để nuôi các con anh ăn học nên anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết. Về các văn bản tố tụng Tòa án anh đều nhận được nhưng anh không đến Tòa án làm việc, không tham gia khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị T đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh H không thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Trần Quang H.
Về con chung: Giao cho chị Lê Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 28/7/2024 và cháu Trần Nam K, sinh ngày 26/10/2017, kể từ khi ly hôn cho đến khi từng cháu thành niên. Anh Trần Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Lê Thị T tự nguyện không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí chị Lê Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Lê Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với bị đơn là anh Trần Quang H, nơi cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định vụ án có quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 30/8/2024 nhưng anh H vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên đã Hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị T vắng mặt nhưng đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt còn anh H vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn phù hợp các quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Trần Quang H được UBND xã B đăng ký kết hôn vào ngày 27/7/2011 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vì vợ chồng có bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, không có trách nhiệm, tôn trọng và yêu thương nhau nên từ nhiều tháng nay chị T và anh H đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Kết quả thu thập chứng cứ và lời trình bày của đương sự cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn lại, nếu cứ tiếp tục ràng buộc cũng không có hạnh phúc mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Trần Quang H đều xác nhận có 02 con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 28/7/2024 và cháu Trần Nam K, sinh ngày 26/10/2017. Sau khi ly hôn, chị T và anh H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con chung. Kết quả xác minh thu thập chứng cứ và lời trình bày của các bên đương sự cho thấy: Kể từ khi anh H và chị T sống ly thân cho đến nay thì con chung của anh chị được bố mẹ đẻ anh H hỗ trợ trong việc chăm sóc, đưa đón đi học. Chị T phải đi làm thuê để có thêm thu nhập lo cho các con ăn học. Anh H ở nhà thường xuyên có những hành vi thiếu chuẩn mực đạo đức đối với bố mẹ đẻ của mình và đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, anh H đang phải chấp hành thời gian thử thách của án treo và đã vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo nên ngày 16 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã ra quyết định giải quyết đề nghị buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì anh H phải chấp hành hình phạt tù giam. Mặc dù cháu L có nguyện vọng được ở với anh Trần Quang H nhưng khi xem xét giao con chung cho bố hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng cần phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Do vậy, cần giao hai con chung cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị T và anh H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[3.] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Trần Quang H.
-
Về con chung: Giao cho chị Lê Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 28/7/2024 và cháu Trần Nam K, sinh ngày 26/10/2017, kể từ khi ly hôn cho đến khi từng cháu thành niên. Anh Trần Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Lê Thị T tự nguyện không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, anh Trần Quang H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002253 ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Chị Lê Thị T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lê Thị T và bị đơn anh Trần Quang H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Bùi Thị Duyên |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
