Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày 20 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Xuyên.

Bà Nguyễn Thị Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đậu Quang T, sinh năm 1969 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Đậu Minh C (chết) và bà Nguyễn Thị T1; Có vợ: Lê Thị H và 02 con; Tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 08/6/2024 được tại ngoại. Có mặt.
  2. Nguyễn Bá T2, sinh năm 1968 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm G, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Bá N (chết) và bà Trần Thị Q (chết); Có vợ: Lê Thị X và 03 con; Tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 08/6/2024 được tại ngoại. Có mặt.
  3. Võ Đình V, sinh năm 1971 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm S, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Võ Đình N1 (chết) và bà Nguyễn Thị L (chết); Có vợ: Nguyễn Thị K và 03 con; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 29/7/1995, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong hình phạt ngày 04/10/1995; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 08/6/2024 được tại ngoại. Có mặt.
  4. Nguyễn Văn K1, sinh năm 1971 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn C1 (chết) và bà Phạm Thị T3 (chết); Có vợ: Phạm Thị D và 03 con; Tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 25/3/2022, bị Công an xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc”, chấp hành xong ngày ngày 04/4/2022; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến 08/6/2024 được tại ngoại. Có mặt.
  5. Nguyễn Văn D1, sinh năm 1968 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm F, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Viết T4 (chết) và bà Hoàng Thị B (chết); Có vợ: Phan Thị H1 và 02 con; Tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 08/6/2024 được tại ngoại. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Nghĩa T5, sinh năm 1957; nơi cư trú: Xóm H, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 45 ngày 05/6/2024, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn D1, Đậu Quang T, Nguyễn Văn K1Võ Đình V đến nhà của ông Hoàng Nghĩa T5 tại xóm H, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An để ăn cơm trưa. Tại đây, ông T5 chuẩn bị nấu đồ ăn tại nhà bếp còn T2, T, K1, V, D1 ngồi nói chuyện tại phòng khách. 05 người trên thấy bộ bài cũ ở cửa sổ nên cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “ba cây, chương ăn chương đền” tại phía góc của phòng khách. Đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, D1 nghỉ chơi bạc do hết tiền. Sau đó, ông T5 ở dưới nhà bếp gọi 05 người đang ở phòng khách xuống bếp ăn cơm nên tạm nghỉ. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong một lúc thì T2, T, K1V lên phòng khách tiếp tục đánh bạc, còn ông T5D1 vào phòng ngủ tại của nhà ngang cạnh nhà bếp, một lúc sau D1 đi về nhà còn ông T5 ngủ lại phòng. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi T2, T, K1V đang đánh bạc thì bị Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang đồng thời thu giữ tại chiếu bạc 9.900.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân, 01 chiếu nhựa màu xanh. Đến 17 giờ cùng ngày, D1 đến Cơ quan điều tra - Công an huyện N đầu thú.

Tổng số tiền 5 bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.900.000 đồng (Chín triệu chín trăm nghìn), trong đó T sử dụng 2.400.000 đồng, T2 sử dụng 2.300.000 đồng, V sử dụng 2.200.000 đồng, K1 sử dụng 2.000.000 đồng, D1 sử dụng 1.000.000 đồng.

Cách thức đánh bạc bằng hình thức ba cây được các đối tượng thống nhất như sau: Mỗi ván bài người cầm “Chương” dùng 36 quân bài túlơkhơ (Từ A đến 9) chia đều cho mỗi người 03 quân bài, mỗi người sẽ đặt cửa số tiền là 100.000 đồng để đánh với người cầm “Chương”. Người chơi tính điểm bằng cách cộng điểm 3 quân bài của mình lại rồi so sánh số điểm của mình với người cầm “Chương”, nếu thắng thì sẽ được số tiền bằng số tiền mình đặt cược, nếu thua thì thua bằng số tiền mình đặt cược. Nếu có điểm số 3 quân bài 10 điểm thì được nhân đôi số tiền đặt, 3 quân bài giống nhau thì được nhân 3 số tiền đặt, 3 quân bài cùng chất liên tiếp nhau thì được nhân 4 số tiền đặt so với người cầm “chương”.

Bản Cáo trạng số 71/CT-VKSNĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố Đậu Quang T, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn K1, Võ Đình VNguyễn Văn D1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đậu Quang T, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn K1, Võ Đình VNguyễn Văn D1 phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Đậu Quang T số tiền từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Bá T2 số tiền từ 21.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn D1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 21.000.000 đồng.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn K1, Võ Đình V mỗi bị cáo số tiền từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.900.000 đồng hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện N.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh gồm 36 quân bài, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh, đã qua sử dụng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo Đậu Quang T, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn K1, Võ Đình VNguyễn Văn D1 đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp lệ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 10 giờ 45 phút đến 14 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, tại xóm H, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn D1, Đậu Quang T, Nguyễn Văn K1Võ Đình V có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “ba cây, chương ăn chương đền”. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.900.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội và nếp sống văn minh, là căn nguyên phát sinh các tội phạm khác do đó cần xử nghiêm.

Vụ án có đồng phạm, nhưng mang tích chất giản đơn. Bị cáo TT2 sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất, bị cáo VK1 tuy sử dụng số tiền đánh bạc ít hơn nhưng là người có nhân thân xấu. Bị cáo D1 sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, năm bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải (tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Các bị cáo Nguyễn Bá T2, Đậu Quang T, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn K1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Bị cáo Nguyễn Bá T2 có bà ngoại Trần Thị H2 là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cậu ruột Trần Đình T6, Trần Văn L1 là liệt sỹ; Đậu Quang T có bố đẻ Đậu Minh C được tặng thưởng nhiều Huân huy chương, mẹ đẻ Nguyễn Thị T1 tham gia dân công hỏa tuyến; Nguyễn Văn K1 có bố đẻ Nguyễn Văn B1 được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, mẹ đẻ Trần Thị T7 được tặng Bằng khen vì tham gia kháng chiến chống Mỹ; Võ Đình V có anh trai Võ Trọng N2 là Dũng sỹ giữ nước, anh trai Võ Trọng P là thương binh; Nguyễn Văn D1 có anh trai Nguyễn Xuân T8, chú ruột Nguyễn Viết Đ được tặng thưởng nhiều Huân Huy chương, sau khi phạm tội bị cáo đến đầu thú. (các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự).

Xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh gồm 36 quân bài, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh, đã qua sử dụng. Đây là các công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với số tiền 9.900.000 đồng hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện N, các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Đối với ông Hoàng Nghĩa T5, quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định không liên quan, không tham gia đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định.

[8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đậu Quang T, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn K1, Võ Đình VNguyễn Văn D1 phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo:
      • - Đậu Quang T số tiền 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng).
      • - Nguyễn Văn K1 số tiền 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng).
      • - Nguyễn Bá T2 số tiền 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng).
      • - Nguyễn Văn D1 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Đình V số tiền 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu).
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    1. Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.900.000 đồng hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện N theo biên bản giao nhận ngày 25/6/2024 và Phiếu nhập kho ngày 25/6/2024 giữa Công an huyện N và Kho bạc Nhà nước huyện N.
    2. Tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh gồm 36 quân bài, đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh, đã qua sử dụng.

      (Đặc điểm, tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện N và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đậu Quang T, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn K1, Võ Đình VNguyễn Văn D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, 5 bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có mặt, có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn;
  • - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Nam Đàn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá Tùng và Dp - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger