TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/DS-PT Ngày 16 - 4 - 2024 V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thuý Mai.
Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 81/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2023/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 117/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Đức H, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông H: Ông Dương Đức M, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội, (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H: Ông Lê Minh T, L sư Công ty L3 và Cộng sự - Đoàn Luật sư Thành phố H, (có mặt).
Bị đơn: Ông Phạm Đức B, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
Chị Phạm Lan P, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Số B ngõ E, đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Viết L1, sinh năm 1976; địa chỉ: B T, Number One K, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội, (có mặt).
Anh Phạm Đức T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số B ngõ E, đường P, phường T, thành phố V, Vĩnh Phúc, (có mặt).
Anh Phạm Đoàn D, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị C, sinh năm 1951; nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Ông Phạm Đức L2, sinh năm 1954; nơi cư trú: Số F, đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Ông Phạm Đức C1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số nhà I, ngõ G, đường Đ, phường Đ, thành phố V, Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Bà Phạm Thị T2 (Q), sinh năm 1962; nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Ông Phạm Đức C2, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số nhà E, Khu tập thể C ngõ K, Học viện K, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. (vắng mặt).
Ông Phạm Đức M1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số A, ngõ E, Học viện K, phường Đ, quận B, Hà Nội, (vắng mặt).
Người kháng cáo: Chị Phạm Lan P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề năm 2019, và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Phạm Đức H và người đại diện theo uỷ quyền của ông H trình bày: Bố mẹ ông H là cụ Phạm Đức T3 (chết năm 2000) và cụ Phạm Thị C3 (chết năm 2006), sinh được 11 người con là: Phạm Đức C4 (liệt sỹ năm 1972, khi chết chưa có vợ con); bà Phạm Thị C, ông Phạm Đức T4, sinh năm 1953 (chết năm 2016 có vợ là bà Đoàn Thị H2, sinh năm 1953 (đã ly hôn năm 2001) và có sinh được ba người con gồm: Phạm Lan P, Phạm Đức T1 và Phạm Đoàn D); ông Phạm Đức L2, ông Phạm Đức C1, bà Phạm Thị T2 (tên gọi khác Q), ông Phạm Đức H, bà Phạm Thị H1, ông Phạm Đức B và ông Phạm Đức M1. Sinh thời bố mẹ ông tạo lập được một khối tài sản chung bao gồm khoảng 5.782 m² đất tại khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Thửa đất này do bố mẹ ông tạo lập trước năm 1970, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Năm 2000 bố ông chết không để lại di chúc. Sau khi mẹ ông chết thì ông có nghe nói mẹ ông có đơn xin nhượng thừa kế tài sản và bất động sản cho em ông là Phạm Đức B diện tích 1.309m² đất và cho bà Phạm Thị Q (T2) 400m² đất. Ngày hôm 23/4/2002, được sự thống nhất của cụ C3, ông Phạm Đức M1 (là người được toàn quyền sử dụng diện tích đất còn lại) và ông Phạm Đức T4 (là anh trai cả trong gia đình) đã thống nhất và lập biên bản cho ông 400m² đất vườn có chữ ký của ông M1, ông T4 và trưởng khu ông Nguyễn Văn C5. Sau đó đến năm 2019 ông lên dọn dẹp thửa đất được cho thì bị ông B ngăn cản không cho vào khiến anh em mâu thuẫn.
Sau khi sự việc xảy ra, ông tìm hiểu về nguồn gốc đất của bố mẹ thì mới biết ông B được UBND thành phố V cấp GCNQSDĐ với diện tích đất là 1797.3m² và bà T2 (Q) cũng được cấp GCNQSDĐ 1.879.3m² vào năm 2006, trong tổng diện tích đất mà bố mẹ ông tạo dựng. Số diện tích còn lại là 2105.7m² hiện đứng tên mẹ ông cụ Phạm Thị C3. Việc cụ C3 cho hay bán đất cho ông T4 cụ thể như thế nào ông không biết nhưng có biết năm 2002 ông T4 xây nhà trên đất của mẹ ông. Nghe anh chị em nói là mẹ ông cho ông T4 diện tích cụ thể bao nhiêu tôi không nắm được. Ông đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B, đối với diện tích đất có nguồn gốc của bố mẹ tôi để lại như nêu trên, và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² hiện đứng tên mẹ ông là cụ Phạm Thị C3 cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật, phần của ông, ông đề nghị được lấy bằng hiện vật.
Tại phiên toà ông H đề nghị rút yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho ông B và bà T2 và không yêu cấu chia thừa kế đối với phần đất đứng tên ông B và bà T2. Ông yêu cầu chia thừa kế đối với toàn bộ diện tích đất đứng tên bà Phạm Thị C3 là 2105,7m² thuộc 23, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa số 4 tờ bản đồ 8 đo đạc thực tế 2326,1m²) là tài sản hợp pháp của cụ T3, cụ C3 theo quy định của pháp luật, đối với cây cối lâm lộc trên đất ông không đề nghị tính giá trị để chia mà ai được chia trên phần đất nào thì người đó được quản lý sử dụng.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Phạm Lan H3, anh Phạm Đức T1 và anh Phạm Đoàn D về việc công nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị C3 với ông Phạm Đức T4 lập ngày 10/10/2003.
Bị đơn ông Phạm Đức B vắng mặt tại phiên toà, tại bản tự khai ông B trình bày: Ông thừa nhận lời trình bày về nguồn gốc thửa đất, thành phần gia đình như ông H trình bày là đúng. Tuy nhiên, ông xin bổ sung như sau: Bố mẹ ông tạo lập được một khối tài sản chung bao gồm trên 01 mẫu đất bắc bộ (Khoảng trên 3.600m²) đất tại khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc chứ không phải 5.782m² đất như ông H trình bày; thửa đất này được tạo lập vào khoảng năm 1970, chưa được cấp GCNQSDĐ. Trong 11 anh chị em do hoàn cảnh mỗi người một công việc, có gia đình và ra ở riêng nên chỉ có vợ chồng ông ở lại và chăm sóc cụ T3 và cụ C3 từ khi ông lập gia đình đến lúc hai cụ chết. Do đó, năm 1999 bố mẹ ông làm thủ tục tách cho ông 1.797,3 m² đất (có cán bộ địa chính đến đo đất và có 04 anh chị em chứng kiến là ông L2, ông C1, ông H và ông C5) trong đó có 200 m² đất ở, còn lại là đất vườn; đến năm 2006 ông được nhà nước cấp GCNQSDĐ đứng tên hộ ông Phạm Đức B. GCNQSDĐ số AB 867106, thửa đất số 05, tờ bản đồ số 08, địa chỉ thửa đất ở Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, cấp theo quyết định 1199 ngày 25/12/2006 của UBND thành phố V và ông vẫn ở trên đất đóng đầy đủ nghĩa vụ thuế cho Nhà nước từ đó đến nay. Trên đất ông xây 01 nhà 04 gian cấp IV và đầu năm 2019 tách cho con gái là Phạm Thị Hồng V khoảng 200 m² đất. Năm 2008 bán cho ông T5 ở Định T 100m².
Hiện nay diện tích đất này ông Phạm Đức L2 là anh trai ông đã mua lại. Cùng thời điểm năm 1999 bố mẹ ông còn làm thủ tục tách cho chị gái là bà Phạm Thị Q 400m² và hiện giờ bà Q cũng được Nhà nước cấp GCNQSDĐ theo quy định. Sau khi tách đất cho ông và bà Q, năm 2000 cụ T3 chết không để lại di chúc, năm 2002 ông T4 bỏ vợ lên ở với mẹ ông được mẹ ông cho làm nhà ra góc vườn để lấy vợ thì ông H, ông C5 lên phá nên mẹ ông mới làm thủ tục mua bán để hợp thức hóa việc cho ông T4 đất, diện tích cho ông T4 khoảng 700 m², hiện diện tích đất này con trai ông T4 là Phạm Đoàn D đang ở. Tuy nhiên, diện tích đất này vẫn nằm trong tổng diện tích đất đứng trong bìa đỏ của mẹ ông là cụ Phạm Thị C3. Diện tích đất còn lại mẹ ông có viết di chúc để lại cho ông M1 toàn quyền sử dụng, tuy nhiên di chúc này chưa được chứng thực của UBND phường L. Năm 2006 mẹ ông chết, khi mang di chúc ra công bố thì các ông là ông T4, ông H, ông C5 và bà Q không thừa nhận di chúc nên ông M1 có nói “Đó là di nguyện của mẹ để lại mà các anh không thừa nhận thì tôi cũng không cần gì cả” và hiện tại bản di chúc này ông không giữ, hiện thất lạc đâu ông không biết. Sau khi mẹ ông chết ông là người quản lý toàn bộ thửa đất của mẹ ông để lại đã được nhà nước cấp GCNQSDĐ mang tên cụ Phạm Thị C3, diện tích là 2.105,7m² và là người trực tiếp thờ cúng các cụ và anh trai là Liệt sỹ theo phong tục địa phương đồng thời cũng là người được hưởng trợ cấp vì là người thờ cúng Liệt Sỹ.
Nay ông H làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B, đối với diện tích đất có nguồn gốc của bố mẹ ông để lại như nêu trên, và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² hiện đứng tên mẹ ông là cụ Phạm Thị C3 cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của ông B như sau: Đối với yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đứng tên ông được UBND thành phố V cấp năm 2006, ông không đồng ý vì đất này ông được bố mẹ cho trước khi bố ông chết. Còn diện tích đất đứng tên cụ Phạm Thị C3 ông đang quản lý ông đề nghị giữ nguyên hiện trạng để làm nhà thờ như nguyện vọng của bố mẹ ông. Trường hợp phải chia ông đề nghị phân chia theo quy định của pháp luật và ông xin lấy bằng hiện vật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Đức C2 vắng mặt tại phiên toà tại bản tư khai ông trình bày: Về nguồn gốc hình thành thửa đất, thành phần gia đình cũng như các vấn đề khác mà ông H đã trình bày là đúng. Nay ông H chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782m² hiện đứng tên mẹ ông là cụ Phạm Thị C3 cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật, ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với diện tích đất của cụ C3 cho ông T4 như thế nào ông không biết, nhưng ông có biết việc ông T4 lên ở với mẹ ông và làm nhà ra góc vườn ở từ năm 1998 hoặc 1999 đến khi ông T4 chết. Hiện tại diện tích đất này do anh D con ông T4 đang quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là Chị Phạm Lan P, anh Phạm Đức T1, anh Phạm Đoàn D (vắng mặt) tại các bản tự khai trình bày: Anh chị là con của ông Phạm Đức T4, về nguồn gốc hình thành tài sản của cụ C3 và cụ T3 cũng như thành phần gia đình anh chị hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông B. Tuy nhiên đối với diện tích thửa đất bố anh, chị ở và hiện giờ anh D đang quản lý anh chị có ý kiến như sau: Bố anh chị là ông T4 là con trai trưởng của cụ T3 và cụ C3, ông T4 lấy bà Đoàn Thị H2 vào năm 1975 và sinh được 03 người con là chị P, anh T1, anh D. Khoảng năm 1999 bố mẹ anh chị ly thân, năm 2001 bố mẹ anh chị ly hôn, sau khi ly hôn ông T4 lấy thêm 02 vợ nữa nhưng không có con và đã lần lượt ly hôn theo quy định, hiện tại chỉ có 03 anh chị là người thừa kế hợp pháp của ông T4. Trước khi ly hôn, khoảng năm 1999 - 2000 ông T4 lên ở với cụ C3, năm 2003 ông T4 mua của cụ C3 theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 10/10/2003 là 750 m² đất với giá 50.000.000đ, việc mua bán này có giấy viết tay của cụ C3 và có chữ ký của ông Phạm Đức M1 (con trai út của cụ C3) ký với tư cách là người làm chứng, sau khi mua đất của cụ C3 ông T4 đã làm nhà trên đất và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Năm 2016 ông T4 chết không để lại di chúc, toàn bộ diện tích thửa đất này hiện anh Phạm Đoàn D đang quản lý, sử dụng. Nay ông H khởi kiện phân chia di sản của cụ C3, cụ T3 anh chị đề nghị như sau. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 750m² ngày 10/10/2003 giữa cụ C3 với ông T4 là hợp pháp, phần còn lại mới chia thừa kế theo quy định. Phần của ông T4 anh chị là người thừa của ông T4, nên anh chị đề nghị được chia bằng hiện vật.
Bà Phạm Thị C vắng mặt tại phiên toà tại bản tự khai trình bày: Bà xác nhận thời gian cụ Phạm Đức T3 và cụ Phạm Thị C3 chết và thành phần gia đình, nguồn gốc tài sản như các anh em trong gia đình trình bày là đúng, bà xác định các cụ chỉ tạo lập được khoảng 3.000m2 tại khu H, phường L, thành phố V được khai hoang từ năm 1970, trên đất có 01 ngôi nhà 04 gian, năm 1999 bố mẹ bà cho bà T2 khoản 400m² đất và cho ông B khoảng hơn 1000m² đất và vừa bán vừa cho ông T4 khoảng 700m²; cụ thể thủ tục tặng cho như thế nào bà không biết, khi bố mẹ bà chết bà chỉ nghe nói diện tích đất còn lại giao cho ông M1 quản lý sử dụng, sau đó có nghe nói ông M1 cho lại cho ông H 400m² việc cho này có văn bản hay không bà không rõ. Nay ông H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B đối với diện tích đất có nguồn gốc của bố mẹ bà và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Quan điểm của bà, bà đã có đất ở nên bà từ chối không nhận di sản thừa kế.
Ông Phạm Đức L2 vắng mặt tại phiên toà tại bản tự khai trình bày: Ông xác nhận thời gian cụ Phạm Đức T3 và cụ Phạm Thị C3 chết và thành phần gia đình, nguồn gốc tài sản như các anh em trong gia đình trình bày là đúng. Sinh thời bố mẹ ông tạo dựng được khối tài sản khoảng 4000m² tại khu H, phường L, thành phố V do khai hoang từ những năm 1970. Năm 1999 bố mẹ ông tách cho ông B 1.797.3m² đất và cho bà T2 400m² đất và đều được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Năm 2000 ông T4 ly hôn và lên phần đất của bố mẹ ông làm nhà ở một góc vườn việc mua bán tặng cho thế nào ông không biết, diện tích còn lại mẹ ông giao cho ông M1 toàn quyền sử dụng nhưng di chúc không được chứng thực, sau này gia đình công bố di chúc nhưng nhiều người không thừa nhận, hiện tại di chúc thất lạc ở đâu ông không rõ, toàn bộ diện tích đứng tên cụ Nguyễn Thị C6 do ông B đang quản lý.
Nay ông H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Quan điểm của ông đối với GCNQSDĐ cấp cho ông B, bà T2, ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, đối với diện tích đất mà chia phải thừa kế, ông xin nhận và nguyện vọng để lại làm nhà thờ.
Ông Phạm Đức C1 vắng mặt tại phiên toà tại bản tự khai trình bày: Ông xác nhận thời gian cụ Phạm Đức T3 và cụ Phạm Thị C3 chết và thành phần gia đình, nguồn gốc tài sản như các anh em trong gia đình trình bày là đúng. Sinh thời bố mẹ ông tạo dựng được khối tài sản khoảng 4000m2 tại khu H, phường L, thành phố V do khai hoang từ những năm 1970. Năm 1999 bố mẹ ông tách cho ông B 1.797.3m² đất và cho bà T2 400m² đất và đều được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2002 ông T4 ly hôn và lên phần đất của bố mẹ ông làm nhà ở một góc vườn việc mua bán tặng cho thế nào ông không biết, diện tích còn lại mẹ ông giao cho ông M1 toàn quyền sử dụng nhưng di chúc không được chứng thực sau nay gia đình công bố di chúc nhưng nhiều người không thừa nhận, hiện tại không nắm được ai đang quản lý di chúc, hiện toàn bộ diện tích đứng tên cụ Nguyễn Thị C6 do ông B đang quản lý. Nay ông H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Quan điểm của ông đối với GCNQSDĐ cấp cho ông B, bà T2, ông không đồng ý vì đã được cấp theo đúng quy định của pháp luật, đối với diện tích đất đứng tên cụ Phạm Thị C3 ông đề nghị chia theo quy định của pháp luật.
Bà Phạm Thị T2 (tên gọi khác Q) vắng mặt tại phiên toà tại bản tự khai trình bày: Bà xác nhận thời gian cụ Phạm Đức T3 và cụ Phạm Thị C3 chết và thành phần gia đình, nguồn gốc tài sản nhưng các anh em trong gia đình trình bày là đúng. Sinh thời bố mẹ bà tạo dựng được khối tài sản 3434m² tại khu H, phường L, thành phố V do khai hoang từ những năm 1970. Năm 1999 bố mẹ ông tách cho ông B khoảng 1000m² đất và tách cho bà 400m² đất. Sau khi bố mẹ bà cho 400m² gia đình bà tiếp tục khai hoang, năm 2006 được Nhà nước cấp GCNQSDĐ với diện tích khoảng hơn 1800m². Năm 2005 bà xây dựng 01 nhà 03 tầng trên đất và bà được biết sau khi bố bà chết ông T4 lên ở cùng với cụ C3 và được cụ C3 vừa cho vừa bán cho ông T4 khoảng 700m², hiện ông T4 đã chết và con ông T4 là anh Phạm Đức D1 đang quản lý sử dụng, diện tích đất còn lại nguyện vọng của mẹ bà là cho ông M1 một phần còn một phần làm nhà thờ, bà chỉ nghe nói ông B cho ông H khoảng 400m² trong số đất mẹ bà để lại nhưng cho thế nào bà không biết. Nay ông H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCN QSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Quan điểm của bà T2 đối với yêu cầu huỷ GCNQSDĐ cấp cho bà, bà không đồng ý vì đất được bố mẹ bà cho khi hai cụ còn sống và do gia đình bà khai hoang mà có, đối với diện tích đất đứng tên cụ Phạm Thị C3 bà đề nghị giữ nguyên làm nơi thờ cúng, trường hợp phải chia bà đề nghị chia theo quy định của pháp luật.
Bà Phạm Thị H1 vắng mặt tại phiên toà tại bản tự khai trình bày: Bà xác nhận thời gian cụ Phạm Đức T3 và cụ Phạm Thị C3 chết và thành phần gia đình, nguồn gốc tài sản như các anh em trong gia đình trình bày là đúng. Sinh thời bố mẹ bà tạo dựng được khối tài sản 3434m² tại khu H, phường L, thành phố V do khai hoang từ những năm 1970. Năm 1999 bố mẹ ông tách cho ông B khoảng 1000m² đất và tách cho bà T2 400m² đất; năm 2006 cụ C3 chết có để lại di chúc để lại toàn bộ diện tích còn lại cho ông M1 quản lý sử dụng di chúc có chữ ký của cụ C3, hiện di chúc này ai quản lý bà không rõ. Nay ông khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Quan điểm của bà đối với GCNQSDĐ cấp cho ông B, bà T2 bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, đối với diện tích đất đứng tên cụ Phạm Thị C3 bà không muốn chia đất, bà nghị phần đất đó để lại làm nhà thờ, nếu phải chia bà đề nghị được nhận lại phần đất được chia.
Ông Phạm Đức M1 vắng mặt tại phiên toà tại bản tự khai trình bày: Ông xác nhận thời gian cụ Phạm Đức T3 và cụ Phạm Thị C3 chết và thành phần gia đình, nguồn gốc tài sản như các anh em trong gia đình trình bày là đúng. Sinh thời bố mẹ ông tạo dựng được khối tài sản là đất ở tại khu H, phường L, thành phố V do khai hoang từ những năm 1970. Năm 2006 khi mẹ ông bệnh nặng qua đời đã di chúc lại cho ông diện tích đất còn lại, khi ông công bố di chúc, nhưng ông H, ông C2, bà T2 không công nhận di chúc vì di chúc không được chứng thực. Nay ông H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà Phạm Thị T2 và mang tên ông Phạm Đức B và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782 m² các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật. Quan điểm của ông đối với GCNQSDĐ cấp cho ông B, bà T2, ông không đồng ý huỷ GCNQSDĐ cấp cho ông B, bà T2, đối với diện tích đất đứng tên cụ Phạm Thị C3, ông đề nghị một phần làm nhà thờ, còn lại chia theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, chia thừa kế diện tích đất của cụ Phạm Thị C3 để lại theo quy định của pháp luật và đề nghị chia thừa kế cho ông H bằng hiện vật. Đối với yêu cầu độc lập của chị H1, anh T1, anh D1 về việc công nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị C3 với ông Phạm Đức T4 lập ngày 10/10/2003, do chị H1, anh T1 và anh D1 không xuất trình được bản chính của hợp đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyên sử dụng đất trên của chị H1, anh T1 và anh D1.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã áp dụng Các Điều 26, 35, 39, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Các Điều 634, 635, 636, 637, 639, 677, 678 và 679 của Bộ luật dân sự năm 1995; Các Điều 631, 632, 633, 634, 635, 636, 674, 675 và 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X:
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Phạm Lan H3, anh Phạm Đức T1, anh Phạm Đoàn D về việc công nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị C3 với ông Phạm Đức T4 lập ngày 10/10/2003.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật của ông Phạm Đức H.
- Chia cho ông Phạm Đức H 280m² đất (trong đó 242,3m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 36,2m² + 1,5m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 3.360.000.000đ, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 47 đến 48 đến 42 dài 0,16m + 25,84m giáp đất chia cho ông Phạm Đức C2; Cạnh 42 đến 43 đến 1 dài 9,43m + 0,59m giáp đất ông Phạm Đức B; Cạnh 1 đến 2 đến cạnh 3 dài 17,42m + 10,08m giáp với mương rãnh thuỷ lợi; Cạnh 3 đến 4 dài 9,74m giáp với đường dân sinh; Cạnh 4 đến 46 đến 47 dài 1,74m + 1,35m giáp với lối đi chung mới mở và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho Phạm Đức B 236m² đất (trong đó 207,8m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 28,2m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có trị giá là 2.832.000.000đ, vị trí thửa đất là một phần của ngôi nhà thời 03 gian đã hết khấu hoa sử dụng, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 18, đến 22 đến 37 có chiều dài là 1,44m + 43,04m giáp đất chia cho ông Phạm Đức L2; Cạnh 37 đến 38 đến 39 dài 4,7m + 0,18 giáp đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 18 đến 19 giáp đường dân sinh dài 5,35m; Cạnh 19 đến 20 dài 2,25m; cạnh 20 đến 40 dài 1,02m và cạnh 40 đến 39 dài 44,91m giáp đất ông Phạm Đức B đang ở và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho chị Phạm Lan P, anh Phạm Đức T1 và anh Phạm Đoàn D (là con của ông Phạm Đức T4) 345,8m² đất (trong đó 315,1m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 30,7m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 4.149.600.000đ vị trí thửa đất là ngôi nhà cấp 4 do ông Phạm Đức T4 xây đã hết khấu hao, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 13 đến 14 đến 15 dài 4,28m + 8,62m giáp đường dân sinh; Cạnh 15 đến 25 đến 34 dài 2,27m + 36,02m giáp đất chia cho ông Phạm Đức C1; Cạnh 33 đến 34 dài 7,4m giáp đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 33 đến 26 đến 13 dài 30,43 + 2,86m giáp đất chia cho ông Phạm Đức M1 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Phạm Đức M1 189,3m² đất (trong đó 171,6m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 17,7m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 2.271.600.000đ, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 12 đến 13 đến dài 6m giáp đường dân sinh; Cạnh 12 đến 27 đến 31 đến 32 dài 3,33m + 20,11m + 7,69m giáp với lối đi chung mới mở; Cạnh 32 đến 33 dài 5,95m giáp đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 13 đến 26 đến 33 dài 2,86m + 30,43m giáp đất chia cho chị Phạm Lan P, anh Phạm Đức T1 và anh Phạm Đoàn D (là con của ông Phạm Đức T4) và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Phạm Đức L2 192,3m² đất (trong đó 185,1m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 7,2m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 2.307.600.000đ, vị trí thửa đất là một phần của ngôi nhà thời 03 gian đã hết khấu hoa sử dụng, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 17 đến 18 có chiều dài là 5,01m giáp đường dân sinh; Cạnh 18 đến 22 đến 37 dài 1,44m + 43,04m giáp với đất chia cho ông Phạm Đức B; Cạnh 36 đến 37 dài 4,31m giáp đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 36 đến 23 đến 17 dài 40,77m +1,73m giáp đất chia cho bà Phạm Thị T2 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho bà Phạm Thị T2 (Quyết) 191,7m² đất (trong đó 183,2m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 8,5m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 2.300.400.000đ, vị trí thửa đất là một phần của ngôi nhà thời 03 gian và một phần hai gia bếp đã hết khấu hoa sử dụng, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 16 đến 17 dài 5,12m giáp đường dân sinh; Cạnh 36 đến 23 đến 17 dài 40,77m +1,73m giáp đất chia cho ông Phạm Đức L2; Cạnh 35 đến 36 dài 4,65m giáp đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 35 đến 24 đến 16 dài 38,45m +1,99m giáp đất chia cho ông Phạm Đức C1 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Phạm Đức C1 192m² đất (trong đó 181,7m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 10,3m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 2.304.000.000đ, vị trí thửa đất là một phần của ngôi nhà thời 03 gian và một phần hai gia bếp đã hết khấu hoa sử dụng có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 15 đến 16 dài 5,36m giáp đường dân sinh; Cạnh 35 đến 24 đến 16 dài 38,45m +1,99m giáp đất chia cho bà Phạm Thị T2; Cạnh 34 đến 35 dài 4,93 giáp với đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 34 đến 25 đến 15 dài 36,02m + 2,27m giáp với phần đất chia cho Phạm Lan P, anh Phạm Đức T1 và anh Phạm Đoàn D (là con của ông Phạm Đức T4) và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho bà Phạm Thị H1 274,9m² đất (trong đó 273,3m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 1,6 m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 3.298.800.000đ, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 32 đến 33 dài 5,95m giáp đất chia cho ông Phạm Đức M1; Cạnh 33 đến 34 dài 7,4m giáp đất chia cho chị Phạm Lan P, anh Phạm Đức T1 và anh Phạm Đoàn D (là con của ông Phạm Đức T4); Cạnh 34 đến 35 dài 4,93m giáp đất chia cho ông Phạm Đức C1; cạnh 35 đến 36 dài 4,65m giáp đất chia cho ông Phạm Thị T2; cạnh 36 đến 37 dài 4,31m giáp đất chia cho ông Phạm Đức L2; Cạnh 37 đến 38 đến 39 dài 4,70m + 0,18m giáp đất cho ông Phạm Đức B; Cạnh 39 đến 41 dài 9,19m giáp đất ông Phạm Đức B; Cạnh 50 đến 51 đến 41 dài 0,17m + 28,46m giáp đất chia cho ông Phạm Đức C2; Cạnh 32 đến 52 đến 50 giáp dài 3,86m + 5,42m giáp lối đi chung mới mở và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Phạm Đức C2 275m² đất (trong đó 273,3m² đất ở nằm trong GCNQSDĐ và 1,7m² đất nằm ngoài GCNQSDĐ) có giá trị là 3.330.000.000đ, có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 50 đến 51 đến 41 dài 0,17m + 28,46m giáp đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 41 đến 42 dài 10,27m giáp đất của ông Phạm Đức B; Cạnh 47 đến 48 đến 42 dài 0,16 + 25,84m giáp đất chia cho ông Phạm Đức H; Cạnh 47 đến 49 đến 50 dài 8,25m + 2,030m giáp với lối đi chung mới mở và toàn bộ cây cối lâm lộc trên phần đất được chia (có sơ đồ kèm theo).
Mở một lối đi chung có diện tích là 149,1m² có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 12 đến 11 dài 3m giáp với đường dân sinh; Cạnh 12 đến 28 đến 31 đến 32 dài 3,33m + 20,11m + 7,69 giáp đất chia cho ông Phạm Đức M1; Cạnh 32 đến 52 đến 50 dài 3,86m +5,42m giáp với đất chia cho bà Phạm Thị H1; Cạnh 50 đến 49 đến 47 dài 2,030m +8,25m giáp với đất chia cho ông Phạm Đức C2; Cạnh 47 đến 46 đến 4 dài 1,35m + 1,74m giáp đất chia cho ông Phạm Đức H; Cạnh 4 đến 5 dài 7,98m; cạnh 5 đến 6 dài 0,67m; cạnh 6 đến 7 dài 2,58m; cạnh 7 đến 8 dài 4,7m; cạnh 8 đến 9 dài 11,55m; cạnh 9 đến 10 dài 12,68m; cạnh 10 đến 11 dài 8,58m + 1,26m giáp với đường dân sinh cũ đã bị gia đình ông H4, ông B1 đã xây dựng công trình và sử dụng riêng (có sơ đồ kèm theo).
Ông H, ông C2, bà H1, ông B, ông L2, bà T2, ông C1, chị P, anh T1, anh D và anh M1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp GCNQSDĐ được chia thừa kế và diện tích đất tăng thêm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là chị Phạm Thị Lan P có đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sửa đổi nội dung kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; các đương sự đều chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hủy bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm do có tình tiết mới.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị Lan P được làm trong hạn luật định; đơn hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đối tượng khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, thời hiệu khởi kiện, xác định những người tham gia tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án theo đúng quy định.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đoàn D, bà Phạm Thị C, ông Phạm Đức L2, ông Phạm Đức C1, bà Phạm Thị T2 (Q), ông Phạm Đức C2, bà Phạm Thị H1, ông Phạm Đức M1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2]. Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Phạm Đức H và người đại diện theo uỷ quyền của ông H trình bày: Bố mẹ ông là cụ Phạm Đức T3 (chết năm 2000) và cụ Phạm Thị C3 (chết năm 2006); cụ T3 và cụ C3 sinh được 11 người con gồm có ông Phạm Đức C4 (liệt sỹ năm 1972, khi chết chưa có vợ con); bà Phạm Thị C, ông Phạm Đức T4, (chết năm 2016 có vợ là bà Đoàn Thị H2, đã ly hôn năm 2001) và có sinh được ba người con gồm: Phạm Lan P, Phạm Đức T1 và Phạm Đoàn D); ông Phạm Đức L2, ông Phạm Đức C1, bà Phạm Thị T2 (tên gọi khác Q), ông Phạm Đức H, bà Phạm Thị H1, Phạm Đức B, và ông Phạm Đức M1.
Khi còn sống các cụ tạo lập được khối tài sản chung bao gồm khoảng 5.782 m² đất tại khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; thửa đất này do bố mẹ ông tạo lập trước năm 1970, chưa được cấp GCNQSDĐ. Năm 2000 bố ông chết không để lại di chúc. Sau khi mẹ ông chết thì ông có nghe nói mẹ ông có đơn xin nhượng thừa kế tài sản và bất động sản cho em ông là Phạm Đức B diện tích 1.309m² đất và cho bà Phạm Thị Q (T2) 400m² đất. Ngày hôm 23/4/2002, được sự thống nhất của cụ C3, ông Phạm Đức M1 (là người được toàn quyền sử dụng diện tích đất còn lại) và ông Phạm Đức T4 (là anh trai cả trong gia đình) đã thống nhất và lập biên bản cho ông 400m² đất vườn có chữ ký của ông M1, ông T4 và trưởng khu ông Nguyễn Văn C5. Sau đó đến năm 2019 ông lên dọn dẹp thửa đất được cho thì bị ông B ngăn cản không cho vào khiến anh em mâu thuẫn.
Sau khi sự việc xảy ra, ông tìm hiểu về nguồn gốc đất của bố mẹ thì mới biết, ông Phạm Đức B được UBND thành phố V cấp GCNQSDĐ với diện tích đất là 1.797,3m² và bà Phạm Thị T2 (Quyết) cũng được cấp GCNQSDĐ 1.879,3m² vào năm 2006, trong tổng diện tích đất mà bố mẹ ông tạo dựng. Số diện tích còn lại là 2.105,7m² hiện đứng tên mẹ ông cụ Phạm Thị C3. Việc cụ C3 cho hay bán đất cho ông T4, cụ thể như thế nào ông không biết, nhưng có biết năm 2002 ông T4 xây nhà trên đất của mẹ ông. Nghe anh chị em nói là mẹ ông cho ông T4 diện tích cụ thể bao nhiêu ông không nắm được. Ông đề nghị Tòa án hủy Quyết định cấp GCNQSDĐ và hủy GCNQSDĐ mang tên bà T2, ông B đối với diện tích đất có nguồn gốc của bố mẹ ông để lại như nêu trên, và chia thừa kế đối với diện tích đất 5.782m² hiện đứng tên mẹ ông là cụ Phạm Thị C3 cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật, phần của ông, ông đề nghị được lấy bằng hiện vật.
Sau đó tại phiên toà sơ thẩm ông H đề nghị rút yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho ông B và bà T2, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất đứng tên ông B và bà T2. Ông yêu cầu chia thừa kế đối với toàn bộ diện tích đất đứng tên bà C3 là 2.105,7m² thuộc 23 tờ bản đồ số 7, (nay là thửa số 4 tờ bản đồ 8 đo đạc thực tế 2326,1m²) là tài sản hợp pháp của cụ T3, cụ C3 theo quy định của pháp luật; đối với cây cối lâm lộc trên đất ông không đề nghị tính giá trị để chia, mà ai được chia trên phần đất nào thì người đó được quản lý sử dụng. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị P, anh T1 và anh D về việc công nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị C3 với ông Phạm Đức T4 lập ngày 10/10/2003.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm xác định được nguồn gốc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 7 (theo bản đồ 299), có diện tích 3.435m² tại khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc có nguồn gốc là của cụ Phạm Đức T3 khai hoang từ những năm 1970. Năm 1999 cụ T3, cụ C3 đã làm thủ tục tách và tặng cho ông Phạm Đức B 1.390 m² đất và bà Phạm Thị T2 400m². Tại thời điểm cụ T3, cụ C3 tặng cho đất ông B, bà T2 thì thửa đất trên chưa được cấp GCNQSDĐ. Đến năm 2006 ông B được Nhà nước cấp GCNQSDĐ đứng tên ông Phạm Đức B với diện tích là 1.797,3 m²; bà T2 được Nhà nước cấp GCNQSDĐ đứng tên bà Phạm Thị T2 với diện tích là 1.879m², phần đất còn lại cụ C3 cũng được Nhà nước cấp GCNQSDĐ đứng bà Phạm Thị C3 với diện tích đất là 2.105,7m² (đo đạc thực tế 2.326,1m²). Thửa đất này là tài sản hợp pháp của cụ T3, cụ C3.
Năm 2000 cụ T3 chết, khi chết không để lại di chúc, năm 2002 ông T4 ly hôn với vợ và lên ở với cụ C3; ông T4 được cụ C3 vừa bán vừa tặng cho ông T4 750m² đất, diện tích đất này nằm trong tổng diện tích đất đứng trong GCNQSDĐ của cụ C3; cụ C3 và ông T4 có viết giấy chuyển nhượng cho nhau. Năm 2016 ông T4 chết không để lại di chúc, toàn bộ diện tích thửa đất này hiện anh Phạm Đoàn D (con trai ông T4) đang quản lý, sử dụng. Ông T4 có 03 người con gồm: Chị Phạm Lan P, anh Phạm Đức T1, anh Phạm Đoàn D. Trong quá trình giải quyết vụ án chị P, anh T1, anh D đã có yêu cầu độc lập đề nghị Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ C3 và ông T4. Tuy nhiên, Toà án yêu cầu chị P, anh T1, anh D cung cấp bản chính hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T4 và cụ C3 nhưng những người con của ông T4 không cung cấp được mà chỉ cung cấp cho Toà án bản phô tô. Do vậy, cấp sơ thẩm không xem xét tính hợp pháp của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên và không chấp nhận yêu cầu độc lập của Chị P, anh T1 và anh D về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là phù hợp.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ngày 20/10/2023 anh Phạm Đức T1 giao nộp cho Tòa án 01 bản gốc “Giấy nhượng quyền sử dụng đất”, đề ngày 10/10/2003; đồng thời ngày 27/11/2023 anh T1 tiếp tục giao nộp cho Tòa án 01 “Giấy xin xác nhận quyền sử dụng đất”. Anh T1 trình bày lý do đến cấp phúc thẩm mới giao nộp được cho Tòa án là do giấy bị thất lạc, đến giờ mới tìm thấy. Trong giấy nhượng quyền sử dụng đất có nội dung thể hiện, bà C3 nhượng lại cho con trai là Phạm Đức T4, hiện đang ở cùng bà một mảnh đất diện tích 750m² với giá tiền 50.000.000đ, số tiền bà nhận đủ. Người làm giấy bà C3 và có người làm chứng ông Phạm Đức M1. Giấy xin xác nhận quyền sử dụng đất năm 2015, do anh Phạm Đoàn D viết, nội dung thể hiện đề nghị các ông bà xác nhận việc ông T4 mua đất của cụ C3, đề nghị xác nhận để làm thủ tục tách đất. Trong đó có bà Phạm Thị Q, bà Phạm Thị C và ông Phạm Văn C7 ký xác nhận đồng ý tách đất.
Đối với giấy nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 10/10/2003 và giấy xin xác nhận quyền sử dụng đất năm 2015 do anh T1 giao nộp, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, đây là tài liệu mới có tại cấp phúc thẩm, việc xem xét đánh giá đối với giấy này có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự (nhất là anh T1, chị P và anh D), và những giấy này có thể ảnh hưởng đến đường lối giải quyết vụ án.
Đối với hai giấy này nhất là giấy nhượng quyền sử dụng đất năm 2003 có chữ ký của bà C3 chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm; do không có bản gốc nên cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá tính hợp pháp về mặt hình thức cũng như nội dung của giấy, chưa lấy lời khai của các đương sự, nhất là ông M1 là người liên quan, ký với tư cách người làm chứng trong giấy nhượng quyền sử dụng đất. Do đó để đảm bảo nguyên tắc xét xử hai cấp, cần huỷ toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩm số 14/2022/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên và giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung. Trong vụ án này cấp sơ thẩm đã yêu cầu các đương sự giao nộp giấy tờ gốc, tuy nhiên suốt quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, các bên không giao nộp được (như anh T1 trình bày do thất lạc, và đến cấp phúc thẩm mới tìm thấy). Việc huỷ bản án sơ thẩm dẫn đến vụ án kéo dài, lỗi này hoàn toàn thuộc về các đương sự, cấp sơ thẩm không có lỗi.
[3]. Đối với nội dung kháng cáo của chị P sẽ được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[4]. Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm sẽ được cấp sơ thẩm xem khi giải quyết lại vụ án. Về án phí phúc thẩm: Do vụ án bị hủy chị P không phải chịu án phí phúc thẩm.
[5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh V về giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm sẽ được cấp sơ thẩm xem khi giải quyết lại vụ án.
Về án phí phúc thẩm: Chị Phạm Thị Lan P không phải chịu, được hoàn trả lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2017/0001209 ngày 13/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà đã ký Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 62/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 62/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Hủy bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
