Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 62/2025/HS-ST

Ngày 20 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thanh Bình

2. Bà Vũ Thị Kim Dung.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hà Như Quỳnh - Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Cao Hồng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Dương Văn P, sinh ngày 08/11/1991; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Đặng Thu P1 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/02/2025, đến ngày 21/02/2025 chuyển tạm giam (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Dương Hồng S, sinh năm 1997; Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 05/01/2025, Dương Văn P gọi điện thoại cho anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1996; trú tại: phường T, thành phố V rủ T1 đi uống bia tại quán “Hải sản bụi” và xem trận chung kết bóng đá giữa đội tuyển Việt Nam - Thái Lan với mục đích lừa mượn xe của anh T1 sau đó đem đi bán lấy tiền. Anh T1 đồng ý. Khoảng hơn 18 giờ 00 phút cùng ngày, P đang một mình đi bộ trên đường T, phường K, thành phố V thì gặp anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2000; trú tại: thôn Đ, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. P rủ Ngọc A đi uống bia. Ngọc A đồng ý. Cả hai đang đi bộ đến quán bia thì gặp anh T1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 88B1- 374.92, màu xanh bạc nên T1 chở P, Ngọc A đến quán bia “Hải sản Bụi” thuộc phường K, thành phố V. Tại đây, cả ba ngồi uống bia, xem bóng đá đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, P nói với anh T1 cho P mượn xe đi ra ngoài có chút việc. Do tin tưởng nên anh T1 đồng ý cho P mượn xe. P quay sang bảo anh Ngọc A “Mày đi cùng anh tý rồi quay lại”, Ngọc A đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô BKS: 88B1- 374.92 của anh T1 chở anh Ngọc A đến cửa hàng mua bán xe máy S88 ở trong ngõ A, đường T, phường K, thành phố V. P bảo anh Ngọc A đứng ngoài chờ, còn P một mình đi vào quán gặp anh Dương Hồng S, sinh năm 1997, trú tại TDP M, phường K, thành phố V để bán xe. P nói chiếc xe này là xe của P, giấy tờ xe P quên ở nhà và muốn bán xe vì đang cần tiền gấp. Anh S tin tưởng nên đồng ý mua chiếc xe này trên với giá 10.000.000 đồng. Anh S đưa cho P 01 giấy hợp đồng đặt cọc mua bán xe có mẫu đánh máy sẵn, P viết các thông tin vào mục “Họ và tên chủ sở hữu”, “Số CMND/CCCD”, “Địa chỉ thường trú”, “Số điện thoại” dưới phần “Bên bán: (Bên A)” và ký tên ở mục người mua và người bán bên dưới, phần còn lại anh S viết và ký tên vào mục bên mua. Sau đó, anh S sử dụng tài khoản số 6171777777 mở tại Ngân hàng T2 chuyển đến tài khoản số 1014392673 mở tại Ngân hàng V của P số tiền 4.750.000 đồng, còn lại 5.250.000 đồng thì anh S hẹn 10 ngày sau P mang giấy tờ đến thì trả nốt.

Sau khi bán xe, P ra gặp anh Ngọc A. Thấy P đi ra không có xe anh Ngọc A có hỏi P xe đâu thì P nói xe P đã bán lấy tiền, hôm sau sẽ chuộc lại trả cho anh T1 thì anh Ngọc A không hỏi gì nữa. Sau đó, P cùng anh Ngọc A bắt xe taxi đi về, khi đi qua cây rút tiền ATM ở đường T, P xuống xe vào rút số tiền 4.700.000 đồng rồi quay về quán bia. Tại đây, anh T1 biết P đem xe máy của mình đi bán nên yêu cầu P trả xe. P hẹn ngày 06/01/2025 sẽ đem xe về trả anh T1. Sau đó, anh T1 nhiều lần tìm P đòi xe nhưng không liên lạc được nên ngày 14/02/2025,

2

anh T1 làm đơn tố giác P có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến Cơ quan Công an.

Ngày 15/02/2025, P đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân. Tại cơ quan điều tra, Dương Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết quả định giá tài sản: Ngày 16/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Yêu cầu số 363 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố V định giá đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh bạc, mang BKS: 88B1- 374.92. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐG, ngày 19/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố V kết luận giá trị của chiếc xe mô tô trên là 14.000.000 đồng.

Kết quả trưng cầu giám định: Ngày 10/03/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V ra Quyết định số 1304 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định đối với chữ viết của Dương Văn P trên hợp đồng đặt cọc mua xe đề ngày 05/01/2025 (ký hiệu A1). Tại Kết luận Giám định số 814 ngày 01/04/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Chữ ký, chữ viết dưới mục “BÊN BÁN” và chữ viết tại mục “Họ và tên chủ sở hữu”, “Số CMND/CCCD”, “Địa chỉ thường trú”, “Số điện thoại” dưới phần “Bên bán: (Bên A)” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết của Dương Văn P trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký, viết ra.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã thông báo các Kết luận giám định, định giá nêu trên cho anh T1 và bị cáo P. Anh T1 và bị cáo đều không có ý kiến thắc mắc gì.

Cáo trạng số: 58/CT-VKSNDTPVY-CT ngày 13 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Dương Văn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Dương Văn P thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn P. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình

3

sự xử phạt bị cáo Dương Văn P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 15/02/2025).

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị hại anh Nguyễn Thanh T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã có lời trình bày xác nhận toàn bộ sự việc bị cáo Dương Văn P lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố là đúng. Anh T1 xác nhận đã nhận lại chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh bạc, mang BKS: 88B1- 374.92. Anh không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Dương Hồng S vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày: Sau khi sự việc xảy ra bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của bị cáo P tự nguyện bồi thường số tiền 4.750.000đ cho anh Dương Hồng S (chủ cửa hàng S1). Anh S đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu và đề nghị gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà là mẻ đẻ của bị cáo P. Bà là người đã bồi thường cho anh Dương Hồng S số tiền 4.750.000đ. Đây là tiền của bà, bà không có yêu cầu bị cáo Dương Văn P phải trả lại bà số tiền này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Dương Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như: Lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án đã được

4

thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời, qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/01/2025, tại quán bia “Hải sản B” ở đường N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Dương Văn P đã có hành vi gian dối hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh bạc, BKS: 88B1- 374.92 của anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1996, trú tại: phường T, thành phố V đi có việc. Sau khi mượn được xe, P điều khiển xe máy trên đến cửa hàng mua bán xe máy S88 ở ngõ A đường T, phường K, thành phố V bán cho anh Dương Hồng S với giá 10.000.000 đồng. Trị giá tài sản chiếm đoạt theo kết luận giám định là 14.000.000 đồng.

Hành vi của Dương Văn P đã phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe để tự lao động nuôi sống bản thân nhưng không chịu khó lao động, lại muốn hưởng thụ, xem thường pháp luật, xem thường việc sở hữu tài sản của người khác dẫn đến phạm tội. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt là tù giam như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã ra đầu thú và tác động người thân bồi thường đầy đủ cho người liên quan, bị hại đã nhận lại được tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác

5

định các bị cáo là người không có nghề nghiệp, bản thân không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về một số vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Ngọc A là người đi cùng P đến của hàng để bán xe. Quá trình điều tra xác định P không nói cho anh Ngọc A biết P đem xe mô tô BKS: 88B1- 374.92 của anh T1 đi bán, không liên quan đến hành vi phạm tội của P nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Ngọc A là phù hợp.

Đối với anh Dương Hồng S là người mua chiếc xe mô tô BKS: 88B1- 374.92 của P: Quá trình điều tra xác định, khi bán xe P nói với anh S đây là xe của P; anh S không biết xe mô tô trên do P lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý S là phù hợp.

[6]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh bạc, mang BKS: 88B1- 374.92 P mượn của anh T1 sau đó đem bán cho anh S lấy tiền tiêu xài, quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh T1. Ngày 14/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Thanh T1 là có căn cứ.
  • - Đối với số tiền 4.750.000 đồng, P có được từ việc bán chiếc xe của anh T1 cho anh Dương Hồng S, quá trình điều tra P đã tác động bà Nguyễn Thị M (là mẹ đẻ của P) tự nguyện bồi thường số tiền trên cho anh Dương Hồng S. Anh S đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Dương Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 15/02/2025).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Dương Văn P phải nộp 200.000

6

đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên;
  • - CQĐT - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - CQCSTHAHS-Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lương Văn Tuấn

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Duong Van P phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger