|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/9/2024. “V/v: Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được và ông Đào Xuân Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 147/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1992, có đơn vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Ngọc T1, sinh năm 1990, vắng mặt
Cùng địa chỉ nơi cư trú: ấp D, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 30/5/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày:
Bà T và ông Hoàng Ngọc T1 tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau ngày 12/8/2010 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vấn đề kinh tế, ông T1 không chịu tìm việc làm để có thu nhập mà chỉ ở nhà, một mình bà T phải lo cho cuộc sống gia đình, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc con cái. Bà T đã cố gắng chịu đựng và khuyên bảo ông T1 nhưng ông không thay đổi, cứ xin đi làm được mấy bữa rồi lại nghỉ ở nhà chơi. Bản thân ông T1 có tính gia trưởng nên vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã lẫn nhau, đôi khi ông T1 còn chửi bới, xúc phạm bà thậm tệ. Nay bà T nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng, không hạnh phúc nên bà yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Có 02 con chung là Hoàng Gia B, sinh ngày 28/02/2015 và Hoàng Gia H, sinh ngày 03/11/2016. Bà T yêu cầu giao hai con cho ông T1 nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại Bản tự khai, Biên bản hoà giải ngày 11/7/2024 bị đơn ông Hoàng Ngọc T1 trình bày:
Ông T1 và bà Nguyễn Thị Thùy T tự nguyện chung sống và kết hôn theo quy định của pháp luật, vào năm 2010. Quá trình chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì trầm trọng, chỉ phát sinh những mâu thuẫn nhỏ. Trước đây công việc của ông T1 là làm quán net phải thức khuya, bà T đi cạo mủ cao su nên sáng ông T1 không thể dậy sớm phụ vợ đi cạo mủ. Bản thân ông cho rằng bị bệnh thoát vị đĩa đệm nhưng khi vợ nói đi phụ trút mủ ông vẫn phụ, khi làm về thì bị đau lưng, ông T1 nói thì bà T cho rằng kêu ca. Ngoài ra, từ sau khi bị C thì ông hay quên, vợ dặn làm việc này, việc kia nhưng cũng hay quên, khi vợ về chưa thấy làm thì càu nhàu nhưng sau đó vẫn đi làm. Sau dịch Covid ông T1 thất nghiệp 02 năm nhưng vẫn xoay sở kiếm được thu nhập 15.000.000đồng/tháng để lo cho gia đình nhưng bà T vẫn nói không làm gì. Hiện nay ông đã xin được việc làm thu nhập khoảng 10.000.000đồng/tháng, bà T lại nói không cần tiền của ông. Ông T1 không biết vì sao bà T lại làm đơn ly hôn, nhiều lần ông nói vợ chồng ngồi lại để nói chuyện, tìm tiếng nói chung nhưng bà không chịu, nhất quyết ly hôn, bản thân ông còn rất thương vợ, con nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Thống nhất có 02 con chung là Hoàng Gia B, sinh ngày 28/02/2015 và Hoàng Gia H, sinh ngày 03/11/2016. Trường hợp nếu ly hôn thì ông T1 yêu cầu được nuôi cả hai con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện theo quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T, cho bà T được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T1; Giao 02 con chung Hoàng Gia B, sinh ngày 28/02/2015 và Hoàng Gia H, sinh ngày 03/11/2016 cho ông T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản và vay, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Án phí Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án “Ly hôn” do bà Nguyễn Thị Thùy T khởi kiện, bị đơn là Hoàng Ngọc T1 cư trú tại ấp D, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Về việc vắng mặt đương sự: Ngày 12/7/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà T đã có lời khai nên việc vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn ông Hoàng Ngọc T1 mặc dù được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, việc ông T1 không đến Tòa để tham gia tố tụng là đương nhiên từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Hoàng Ngọc T1 tự nguyện chung sống với nhau và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 80, ngày 12/8/2010. Căn cứ Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp, bà T có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông T1 đúng quy định của pháp luật.
Theo lời trình bày của bà T, sau khi kết hôn bà T và ông T1 chung sống hạnh phúc đến năm 2015 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vấn đề kinh tế, ông T1 không chịu kiếm việc làm mà chỉ ở nhà, một mình bà phải lo cho cuộc sống gia đình, chăm sóc con cái. Bà cố gắng chịu đựng và khuyên bảo nhưng ông T1 không thay đổi, không tu chí làm ăn, tính cách gia trưởng dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, hiện bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng nên nguyện vọng được ly hôn. Bị đơn ông T1 tại biên bản Hòa giải lần thứ nhất ngày 11/7/2024 không đồng ý ly hôn, ông cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc, có mâu thuẫn nhưng không lớn; Bản thân ông bị bệnh đau lưng nên không phụ giúp được nhiều cho vợ (phụ vợ cạo mủ cao su), trước kia vẫn đi làm kiếm thu nhập 15.000.000đồng/tháng để phụ lo cho gia đình, tuy việc làm không được ổn định lâu dài. Hiện nay ông T1 đang đi làm có mức thu nhập khoảng 10.000.000đồng/tháng nhưng bà T lại nói không cần tiền của ông.
Xét tình trạng hôn nhân của bà T và ông T1, cả hai vợ chồng đều trình bày có mâu thuẫn, nhưng bà T khẳng định mâu thuẫn trầm trọng, từ năm 2015 đến nay sống chung không được hạnh phúc; còn ông T1 cảm nhận cuộc sống chung vẫn hạnh phúc, có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng, ông mong muốn gia đình đoàn tụ, do đó Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần cho hai bên có cơ hội hàn gắn, tuy nhiên ông T1 vẫn vắng mặt tại các phiên hoà giải, làm việc ngày 29/7/2024, ngày 29/8/2024 và ngày xét xử hôm nay, việc ông T1 vắng mặt nhiều lần cho thấy không có thiện chí hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng; Nguyên đơn bà T có nguyện vọng được ly hôn. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và phải có sự đồng thuận từ hai phía, nhưng bà T kiên quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T1 và bà đã sống riêng từ nhiều tháng nay. Do đó, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân của bà T và ông T1 không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài do mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà được ly hôn với ông T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là Hoàng Gia B, sinh ngày 28/02/2015 và Hoàng Gia H, sinh ngày 03/11/2016.
Bà T yêu cầu giao hai con cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, tại bản tự khai và biên bản hoà giải ngày 11/7/2024 ông T1 đồng ý nuôi hai con chung; Nguyện vọng của hai cháu Hoàng Gia B và Hoàng Gia H cũng muốn được ở với ông T1. Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử nghi nhận, giao hai con chung cho ông T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông T1 không yêu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 80, ngày 12/8/2010 do Ủy ban nhân dân xã T, thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Bình Phước cấp).
-
Về con chung: Giao con Hoàng Gia B, sinh ngày 28/02/2015 và Hoàng Gia H, sinh ngày 03/11/2016 cho ông Hoàng Ngọc T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
- Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001318 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước.
- - VKSND TP Đồng Xoài;
- - CC THA DS TP ĐX;
- - UBND nơi cấp giấy CNKH;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Lê Thu Huệ |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hôn
