Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sở

Bà Lê Thị Kim Uyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 279/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Số E ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1985

Địa chỉ: Số D C, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 02 tháng 7 năm 2024 và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diễm T trình bày: bà và ông Trần Ngọc T1 kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố T, tỉnh Long An vào năm 2009. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T1 thường xuyên đi nhậu, bỏ bê công việc nhà, không có trách nhiệm trong gia đình và thường xuyên có thái độ lớn tiếng với bà dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần Ngọc T1.

Về con chung: có 01 con chung tên Trần Nguyễn Thanh N, sinh ngày 20/9/2010. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trần Nguyễn Thanh N, bà không yêu cầu ông Trần Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Bị đơn ông Trần Ngọc T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng vắng mặt, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án cho rằng:

Về tố tụng:

Thẩm phán tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán chấp hành đúng theo quy định Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều tuân theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện việc bà T yêu cầu ly hôn nhưng ông T1 không có ý kiến là đã thể hiện ý chí không quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà T, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T1.

Về con chung:

Xét thấy ông T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có lời khai thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung. Con chung tên Trần Nguyễn Thanh N, sinh ngày 20/9/2010 hiện đang sống chung với bà T. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định và phát triển về mọi mặt của con chung nên giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Trần Ngọc T1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Diễm T không có yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị Diễm T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập. Bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Nguyễn Thị Diễm T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Trần Ngọc T1 làm phát sinh vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Ngọc T1 có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Long An nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

[2] Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Quá trình tố tụng, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diễm T và ông Trần Ngọc T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 02 năm 2009. Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, bà T và ông T1 chung sống hạnh phúc được thời gian đầu và có một con chung, đến tháng 01 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T1 thường xuyên đi nhậu, bỏ bê công việc nhà, không có trách nhiệm trong gia đình và thường xuyên có thái độ lớn tiếng với bà dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Bà T và ông T1 đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 đến nay. Bà T không còn hạnh phúc khi chung sống với ông T1, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi thụ lý vụ án, ông T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện việc bà T xin ly hôn nhưng ông T1 không có ý kiến là đã thể hiện ý chí không muốn đoàn tụ với bà T. Vì vậy, xét thấy: quan hệ tình cảm giữa bà T và ông T1 không còn, tình trạng vợ chồng giữa hai người đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa. Xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông T1 là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông T1 có một con chung tên Trần Nguyễn Thanh N, sinh ngày 20/9/2010. Con chung hiện nay đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trần Nguyễn Thanh N, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, cháu Trần Nguyễn Thanh N hiện đang sống chung với bà T, được chăm sóc chu đáo, phát triển ổn định về mọi mặt và có nguyện vọng muốn được sống với bà T. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà T là phù hợp và có căn cứ tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Giao con chung chưa thành niên tên Trần Nguyễn Thanh N, sinh ngày 20/9/2010 cho bà Nguyễn Thị Diễm T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Thị Diễm T tự nguyện không yêu cầu ông Trần Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét đề cập.

Trong trường hợp sau khi ly hôn các đương sự có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[5] Về tài sản chung: bà Nguyễn Thị Diễm T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên bản án không đề cập đến.

[6] Về nợ chung: bà Nguyễn Thị Diễm T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên bản án không đề cập đến.

[7] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.

[8] Về án phí: bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Diễm T, cho bà Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn với ông Trần Ngọc T1.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Trần Nguyễn Thanh N, sinh ngày 20/9/2010 cho bà Nguyễn Thị Diễm T được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần Ngọc T1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Diễm T không có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí: bà Nguyễn Thị Diễm T phải có nghĩa vụ chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Diễm T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000582 ngày 17/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An thành án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP. Tân An;
  • - Chi cục THADS TP. Tân An;
  • - UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Diễm Thuý "ly hôn" Trần Ngọc Thanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger