|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HS-ST
Ngày 20-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Hải;
Bà Tô Thu Hoài.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1982 tại tỉnh Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M (đã chết); con bà: Võ Thị N (sinh năm 1949); Vợ: Trịnh Thị T1; con: Có 02 người (con lớn sinh 2015, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 16/4/2024, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đinh Văn T2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Hoàng Thái M1, sinh năm 1990. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/4/2024, Trần Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 77H - 01989, kéo rơ moóc biển kiểm soát 77R - 03951 vận chuyển hàng hóa từ huyện P, tỉnh Bình Định đến cửa khẩu T3, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để xuất khẩu theo đường chuyên dụng xuất nhập khẩu T - P (mốc biên giới 1088/2 – 1089). Do chưa trả được hàng, Trần Văn T để xe bên Trung Quốc và quay trở lại Việt Nam. Khoảng 09 giờ ngày 16/4/2024, Trần Văn T xuất cảnh sang Trung Quốc rồi thuê một người đàn ông xe ôm người Trung Quốc (khoảng 40 tuổi, không rõ tên địa chỉ) chở đến bãi hành tỏi tại P, Trung Quốc để nhận mặt hàng là quả quýt vận chuyển về Việt Nam. Tại bãi hành tỏi, Trần Văn T hỏi người xe ôm có mua được pháo không, Trần Văn T muốn mua 02 hộp pháo, loại pháo hoa nổ, mục đích mang về đốt tại đám cưới em gái vợ. Người đàn ông bảo có và cả hai thỏa thuận mua bán pháo với giá tiền là 320.000 đồng/một hộp. Trần Văn T đưa tiền cho người lái xe ôm và chờ khoảng 30 phút thì người đó quay lại và đưa cho 02 túi bóng màu đen. Trần Văn T mở ra kiểm tra bên trong mỗi túi thấy có 01 hộp pháo hoa nổ loại 100 ống trụ liên kết với nhau. Nhận được pháo, Trần Văn T cất giấu 01 hộp pháo ở trên giường tầng trên, 01 hộp để dưới giường tầng dưới trong ca bin xe ô tô. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, sau khi bốc xếp mặt hàng quả quýt lên xe xong, Trần Văn T điều khiển xe nhập khẩu vào Việt Nam thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 hộp pháo có tổng khối lượng là 08 kg; 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 77H - 01989 kéo theo rơ moóc 77R – 03951; 01 giấy chứng nhận kiểm định phương tiện 77H – 01989; 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc 77R – 03951; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô mang tên Đinh Văn T2; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 77H – 01989 mang tên Đinh Văn T2; 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn T; 01 Giấy phép lái xe hạng FC mang tên Trần Văn T; 01 sổ thông hành xuất nhập cảnh vùng biên giới; 01 điện thoại nhãn hiệu Galaxy A51, bên trong có 01 sim V.
Tại Kết luận giám định số 504/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 khối hình hộp gửi giám định đều là pháo, loại pháo hoa nổ. Toàn bộ số pháo thu giữ đã sử dụng để giám định hết.
Quá trình điều tra, anh Đinh Văn T2 khai: Chiếc xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 77H- 01989 và rơ moóc biển kiểm soát 77R-03951 là thuộc sở hữu của anh Đinh Văn T2. Anh Đinh Văn T2 thuê bị cáo điều khiển xe vận chuyển hàng hóa và anh không biết việc bị cáo sử dụng xe ô tô để vận chuyển pháo và anh không tham gia vào việc vận chuyển pháo. Ngày 22/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 77H - 01989 kéo theo rơ moóc 77R – 03951; 01 giấy chứng nhận kiểm định phương tiện 77H – 01989; 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc 77R – 03951; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô mang tên Đinh Văn T2; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 77H – 01989 mang tên Đinh Văn T2. Anh Đinh Văn T2 xác nhận đã nhận lại đủ giấy tờ, tài sản trạng thái như ban đầu khi tạm giữ, không có thắc mắc, ý kiến gì khác.
Trong giai đoạn điều tra, anh Hoàng Thái M1 khai được chứng kiến việc các cơ quan tiến hành tố tụng bắt người phạm tội quả tang, xác định và niêm phong tang vật, kiểm tra phương tiện theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội Vận chuyển hàng cấm. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng FC, 01 sổ thông hành, 01 điện thoại nhãn hiệu Galaxy A51, bên trong có 01 sim V. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 16/4/2024, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi vận chuyển 08 kg pháo hoa nổ từ Trung Quốc về Việt Nam nhằm mục đích sử dụng. Đối với hành vi mua pháo của bị cáo với một người đàn ông Trung Quốc, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không đủ căn cứ xác định bị cáo có hành vi buôn bán hàng cấm.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng và vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng pháo nổ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện.
- Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lái xe, thu nhập không ổn định, không sở hữu tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
- Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Đối với người đàn ông Trung Quốc đã bán pháo cho bị cáo, do không rõ lai lịch và là người nước ngoài nên Cơ quan điều tra không đủ điều kiện xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý trong vụ án này.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo, rơ moóc và các giấy tờ liên quan cho anh Đinh Văn T2 là chủ sở hữu ngay tình là đúng quy định. Đối với 01 sổ thông hành, 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, 01 điện thoại nhãn hiệu Galaxy A51, bên trong có 01 sim Viettel là các tài sản, giấy tờ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 292; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh
- Về hình phạt
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
- - 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn T;
- - 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số [...] mang tên Trần Văn T;
- - 01 (một) sổ thông hành xuất nhập cảnh vùng biên giới số Y 0111945;
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Galaxy A51, kiểu thiết bị SM-A515F/DSN màu đen, đã qua sử dụng, số seri R58N34K433P, IMEI1 khe 1: 355036112631234, IMEI1 khe 2: 355037112631232. Bên trong có 01 (một) sim điện thoại Viettel số 0961.220.xxx.
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (16/4/2024).
Trả lại cho bị cáo Trần Văn T:
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/7/2024 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/8/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
6
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 16/4/2024, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi vận chuyển 08 kg pháo hoa nổ từ Trung Quốc về Việt Nam nhằm mục đích sử dụng.
