Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 19-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Moong Công Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Ngọc

Ông Vang Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lô May S, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 17 tháng 4 năm 1976 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Đửa, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Văn P (Đã chết) và con bà Lô Thị T; vợ: Vi Thị Đ (Đã ly thân), con: Có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/9/2007, Lô M bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, xử phạt 06 (S1) năm tù về tội Giết người, quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999; 04 (B) năm tù về tội Cướp tài sản, quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999; 05 (Năm) năm tù về tội Chiếm đoạt ma tuý, quy định tại khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và 06 (Sáu) tháng tù về tội Chiếm đoạt vũ khí, quy định tại khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 15 năm 06 tháng tù, tại bản án sơ thẩm số 216/2007/HSST. Đến ngày 30/4/2018, Lô M Sáo chấp hành xong hình phạt tù (Đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 6 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt

Người chứng kiến: Anh Moong Văn Q. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 05 năm 2024, Lô May S đang ở nhà thì có một người đàn ông không quen biết ghé vào cửa hàng tạp hoá của nhà S để mua nước uống. Thấy người này giống người nghiện, nên S nảy sinh ý định hỏi mua ma tuý với người này, thì được người này đồng ý. Lô May S đã mua của người đàn ông này được 02 gói Hồng phiến với giá 8.000.000 đồng. Sau đó, S chia số Hồng phiến này thành 04 gói nhỏ, rồi cất dấu ở kệ hàng nước ngọt trong quán tạp hoá của gia đình S, với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ ngày 03/6/2024, khi Lô May S đang ở nhà của mình, thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Lô May S2 đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 04 gói Ni lông. Trong đó: 02 gói được gói bằng bao Ni lông màu xanh và 02 gói được gói bằng bao Ni lông màu đen, bên trong mỗi gói đều chứa các viên nén màu hồng, từ trên kệ hàng nước ngọt. Lô May S2 khai nhận toàn bộ số viên nén màu hồng là ma tuý Hồng phiến của S2 mua về để sử dụng.

Kết luận giám định số: 621/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 09/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 04 (Bốn) mẫu viên nén màu hồng (Ký hiệu từ M1 đến M4) thu giữ của Lô M Sáo gửi tới giám định là ma tuý Methamphetamine, có tổng khối lượng là 23,33 (Hai mươi ba phẩy ba mươi ba) gam.

Bản Cáo trạng số 65/CT-VKS-TD ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lô May S2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lô M Sáo mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng mình ở mức thấp nhấp theo đề nghị

3

của Kiểm sát viên đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lô May S2 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 20 giờ ngày 03/6/2024, tại nhà của mình ở bản Đ, xã L huyện T, tỉnh Nghệ An. Lô May S2 đã có hành vi tàng trữ trái phép 23,33 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.

4

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, có bố đẻ ông Lô Văn P là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và Huy chương kháng chiến hạng nhì nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Lô M Sáo tại quán nước của nhà S2. Do Lô May S2 không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[7] Xử lý vật chứng: 23,33g Methamphetamine (đã lấy 1,1 gam để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô M Sáo 08 (T2) năm tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024.
  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;

    (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 09.9.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);

  3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô May S2.

5

  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/9/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện Tương Dương;
  • - Công an huyện Tương Dương;
  • - UBND xã Lượng Minh;
  • - Bị cáo, Trại tạm giam;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Tương Dương;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Moong Công Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger