Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 62/2024/HNGĐ - ST

Ngày 19/8/2024

V/v tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Huy Khoa và bà Nguyễn Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Viết Huân - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị L; Sinh năm: 1971;

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Ông Phạm Bá Á; Sinh năm: 1969;

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Các đương sự đều vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 03/6/2024 và trong quá trình tố tụng bà Vũ Thị L trình bày:

Bà và ông Phạm Bá Á kết hôn tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 1989 nhưng do lâu ngày bà đã làm mất giấy đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, ông Á đã rất nhiều lần đánh đập bà. Bà đã góp ý nhiều lần nhưng ông Á không thay đổi. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà nhất định xin được ly hôn với ông Á.

Về con chung: Bà và ông Á có 03 con chung: Phạm Thị T, sinh năm 1990; Phạm Thị L1, sinh năm, 1996 và Phạm Thị H, sinh năm 2004. Hiện các con đã trên 18 tuổi, tự lập về kinh tế.

Về tài sản: Bà L không đề nghị Tòa án giải quyết. Do công việc bận mải bà L xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Trong quá trình tố tụng ông Phạm Bá Á trình bày: Ông Á và bà L tự nguyện kết hôn vào năm 1989 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ do thời gian kết hôn đã lâu ông Á không còn lưu trữ và không thể cung cấp giấy chứng nhận kết hôn cho Tòa án. Quá trình ông và bà L chung sống có xảy ra mâu thuẫn do tính tình ông nóng nảy khi bực tức ông có chửi bới xúc phạm, đánh đập bà L nhưng chưa đến mức phải nhờ chính quyền địa phương phải can thiệp. Ông Á thường đi làm ăn xa nhưng khi ông đi làm về thì bà L lại bỏ đi về bên ngoại ở. Khi ông đi bà L mới về nhà. Ông hứa sẽ thay đổi tính nết chỉ mong muốn bà L rút đơn để vợ chồng đoàn tụ vì các con đã lớn ông không muốn ảnh hưởng đến các con. Bà L xin ly hôn ông không đồng ý ly hôn, nhưng nếu bà L cố tình ly hôn ông cũng phải chịu. Vì lý do công việc bận mải ông Á chỉ đến Tòa 01 lần tham gia hòa giải. Lần sau Tòa án có triệu tập ông cũng không đến. Ông Á xin được vắng mặt tại phiên tòa đề nghị Tòa án cứ giải quyết vắng mặt ông.

Về con chung: Ông Á và bà L có 03 con chung là Phạm Thị T, sinh năm 1990; Phạm Thị L1, sinh năm, 1996 và Phạm Thị H, sinh năm 2004. Hiện các con đã trên 18 tuổi, hai con tự lập về kinh tế, chỉ còn con thứ ba đang học đại học.

Về tài sản: Ông Á không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 25/7/2024 UBND xã Đ cung cấp.

Bà L, ông Á đều có Hộ khẩu thường trú tại thôn N, Đ. Bà L, ông Á chung sống từ năm 1989 có 03 con chung đều đã trên 18 tuổi. Ông Á thường đi làm ăn xa 03 – 4 tháng mới về nhà. Gần đây bà L có đơn xin ly hôn và yêu cầu UBND xã cấp trích lục kết hôn cho bà L. Tuy nhiên do UBND xã Đ không còn lưu trữ được số đăng ký kết hôn nên UBND xã không thể cung cấp được trích lục kết hôn cho bà L. UBND xã chỉ xác định được bà L, ông Á có chung sống như vợ chồng từ năm 1989.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu quan điểm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi nghị án đúng quy định của pháp luật việc chấp hành pháp luật của bà L, ông Á đã tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 35, Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 35/QH10 ngày 09/6/2000; Điều 09, Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình 2000, Thông tư liên tịch số 01/2016/ TATC – VKSTC – BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án tối cao, Viện kiểm sát tối Cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hôn nhân gia đình. Tuyên Xử không công nhận vợ chồng giữa bà Vũ Thị L và ông Phạm Bá Á. Về con chung: Ông Á và bà L có 03 con chung đã trên 18 tuổi nên không phải giải quyết. Về tài sản chung: không giải quyết, Về án phí: Bà L phải chịu án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà L, ông Á vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Bà L, ông Á chung sống như vợ chồng từ năm 1989 và đều xác định hai người có đăng ký kết hôn. Nay bà L có đơn xin ly hôn, ông Á không muốn ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác cho đến thời điểm hiện tại các đương sự đều không cung cấp được tài liệu chứng minh về việc các bên kết hôn hợp pháp.

Căn cứ vào Nghị quyết số 35/QH10 ngày 09/6/2000 Quốc Hội khóa 10; Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân gia đình, Thông tư liên tịch số 01/2016/ TATC – VKSTC – BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án tối cao, Viện kiểm sát tối Cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hôn nhân gia đình. HĐXX thấy vần không công nhận vợ chồng giữa bà Vũ Thị L và ông Phạm Bá Á.

[3] Về con chung: Ông Á và bà L có 03 con chung là Phạm Thị T, sinh năm 1990; Phạm Thị L1, sinh năm, 1996 và Phạm Thị H, sinh năm 2004. Các con chung của ông bà đã trên 18 tuổi, nên không phải giải quyết.

[4]Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Bà L là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án dân sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 35, Điều 146, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Căn cứ vào Nghị quyết số 35/QH10 ngày 09/6/2000 Quốc Hội khóa 10 hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án; Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân gia đình, Thông tư liên tịch số 01/2016/ TATC – VKSTC – BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án tối cao, Viện kiểm sát tối Cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hôn nhân gia đình. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận vợ chồng giữa bà Vũ Thị L và ông Phạm Bá Á.
  2. Về con chung: Ông Á và bà L có 03 con chung là Phạm Thị T, sinh năm 1990; Phạm Thị L1, sinh năm, 1996 và Phạm Thị H, sinh năm 2004. Các con chung của ông bà đã trên 18 tuổi, nên không phải giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003228 ngày 26/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS huyện Đông Hưng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Thi hành án dân sự Đông Hưng;
  • - UBND xã Đông Phương;
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ - ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà L - ông A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger