TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 4 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh, ông Lò Văn Chiên
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
H A T, tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh năm: 19..; Nơi sinh: Huyện A, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: ..; Dân tộc: ..; Giới tính: ..; Tôn giáo: Không; Con ông H A L, đã chết và bà T T M, đã chết; Bị cáo có vợ là V T S, sinh năm 19.. và .. con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu từ ngày 17/12/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: G T L, sinh năm 20... Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
S A P, sinh năm 19... Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 05 giờ ngày 17/12/2023 tại khu vực bản Huổi Hán, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Đồn Biên phòng Sin Suối Hồ, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu phát hiện S A P sinh năm 19.. trú tại bản ..., tỉnh Lai Châu đang điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát 25B1-496.61 đi từ hướng xã Mường so về bản Huổi Hán, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, người ngồi phía sau là H A T, có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội, tổ công tác ra tín hiệu yêu cầu dừng xe kiểm tra, vận động thì H A T tự giác lấy từ trong hậu môn ra 01 gói nilon màu hồng đốt túm một đầu, bên trong có nhiều lớp nilon, mở ra kiểm tra thấy bên trong các lớp nilon có 01 gói nilon màu trắng, 01 gói nilon màu đen đều đốt túm một đầu, tiến hành mở hai gói này ra thấy bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục giao nộp cho tổ công tác. H A T khai nhận số chất một màu trắng dạng cục là Heroine của T mua về để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra S A P không phát hiện thu giữ gì, P không biết việc T cất giấu Heroine trên người. Tổ công tác tiến hành đưa H A T cùng vật chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nậm Xe lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra H A T khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 16/12/2023 H A T đem theo số tiền 1.500.000 đồng mục đích mua Heroine về để sử dụng, T điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát 25B1-496.61 đi đến nhà chở P cùng đi. Trên đường đi hai người không nói chuyện nên T không biết P đem theo số tiền bao nhiêu. Khoảng 22 giờ cùng ngày đi đến bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, T thấy có một nhóm thanh niên đang đi bộ trên đường nên đã dừng lại hỏi có ai biết chỗ bán Heroine không, lúc đó có 01 người trong số họ nói đi hỏi người đàn ông đang đi bộ phía trước. T tiếp tục chở P đi thêm một đoạn thì thấy người đàn ông dân tộc Mông khoảng hơn 50 tuổi, không rõ họ tên và địa chỉ. T và người đàn ông trao đổi mua bán Heroine với nhau, T hỏi mua 1.500.000 đồng, người đàn ông đồng ý, nói T đứng đợi còn người đàn ông đi đâu không rõ. Khoảng 15 phút người đàn ông quay lại đưa cho T 01 gói được gói ngoài bằng nilon hồng đốt túm lại, T dùng điện thoại soi thấy bên trong gói có nhiều lớp nilon, sờ nắn bên ngoài thất có nhiều cục Heroine nên không mở ra, rồi lấy số tiền 1.500.000 đồng (gồm 01 tờ 500.000 đồng, 10 tờ 100.000 đồng) trả cho người đàn ông, lúc này người đàn ông hỏi P có lấy Heroine không thì T có nghe P nói mua 1.000.000 đồng. Do lúc đó trời tối nên T không rõ P có mua được Heroine không, sau đó P đi vệ sinh, còn người đàn ông cũng đi luôn, không rõ đi đâu. Lúc này T ngồi xuống đường, tụt quần ra và nhét gói Heroine vào trong lỗ hậu môn, khi cất giấu Heroine xong, thì P đi ra rồi T điều khiển xe máy chở P đi về. Trên đường về hai người thay nhau điều khiển xe. Đến 05 giờ ngày 17/12/2023, khi P chở T đi về đến bản Huổi Hán, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu thì bị phát hiện bắt quả tang. H A T đã lấy toàn bộ Heroine mua được cất giấu trong hậu môn ra giao nộp và khai nhận mục đích tàng trữ Heroine để sử dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định 18/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lai Châu kết luận: Hai gói chất bột màu trắng gửi giám định có tổng khối lượng 6,85 gam. Hai mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2) gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo H A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị được trả lại chiếc xe máy do không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo H A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H A T từ 05 năm 04 tháng đến 05 năm 10 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 6,67 gam Heroine còn lại sau giám định, các mảnh nilon để gói Heroine và toàn bộ phong bì niêm phong đã mở. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, IMEI 1: 8665234567843, IMEI 2: 866523456787754 thu giữ của H A T. Trả lại cho chị G T L 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe WAVE RSX màu sơn xanh đen, BKS 25B1 – 496.61 kèm chìa khóa, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 25003267. Trả lại cho S A P 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen IMEI 1: 357723114543727, IMEI 2: 357723114543735.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo
Bị cáo không tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 05 giờ 00 phút ngày 17 tháng 12 năm 2023, tại khu vực bản Huổi Hán, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ bị cáo H A T đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 6,85 gam mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do mình đã gây ra. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự lần đầu phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Vì vậy, quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Đối với S A P, bị cáo T khai P là người rủ bị cáo đi mua ma túy, P đã mua của người đàn ông người Mông 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, P không thừa nhận việc này, ngoài lời khai của T ra không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh hành vi phạm tội của P nên không đủ cơ sở để xử lý đối với P. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục đấu tranh để xử lý đối với P
Đối với người đàn ông dân tộc Mông khoảng 60 tuổi mà bị cáo đã mua Heroine, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý đối với người đàn ông đó.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 6,67 gam Heroine còn lại sau giám định, 05 mảnh nilon màu hồng, 06 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu đen và toàn bộ phong bì niêm phong đã mở.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, IMEI 1: 8665234567843, IMEI 2: 866523456787754 thu giữ của H A T.
Trả lại cho chị G T L 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe WAVE RSX màu sơn xanh đen, BKS 25B1 – 496.61 kèm chìa khóa, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 25003267.
Trả lại cho S A P 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen IMEI 1: 357723114543727, IMEI 2: 357723114543735.
[6] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội, thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.
- Tuyên bố bị cáo H A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt bị cáo H A T 05 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 12 năm 2023.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 6,67 gam Heroine còn lại sau giám định, 05 mảnh nilon màu hồng, 06 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu đen và toàn bộ phong bì niêm phong đã mở.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, IMEI 1: 8665234567843, IMEI 2: 866523456787754 thu giữ của H A T.
Trả lại cho chị G T L 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe WAVE RSX màu sơn xanh đen, BKS 25B1 – 496.61 kèm chìa khóa, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 25003267.
Trả lại cho S A P 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu xanh đen IMEI 1: 357723114543727, IMEI 2: 357723114543735.
- Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Trung Tá |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ
