TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lầu A Tính và ông Sầm Văn Nưỡng
- - Thư ký phiên toà: Ông Quàng Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện M, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đức, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Vàng Thị V, sinh năm 1985, tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Nơi ĐKHKTT: Bản C 1, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Vàng A P, đã chết; Con bà: Hạng Thị M, sinh năm 1969.
Bị cáo có chồng Giàng A C, sinh năm 1982 và 07 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/6/2024, tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến ngày xét xử, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Vàng Thị V: Ông Lường Văn B, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, Vàng Thị V mang theo 100.000 đồng đi bộ một mình từ bản C 1, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên đến khu vực bản T, xã Quảng Lâm, huyện M, tỉnh Điện Biên mua ma túy về sử dụng. Khi bị cáo đi đến đầu bản T thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch 01 gói Heroine được gói trong 01 mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,22 gam với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine, bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo đi đến khu vực bản Huổi Hốc, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn Biên Phòng N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng của bị cáo.
Cáo trạng số 48/CT-VKS-MN ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Vàng Thị V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Vàng Thị V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt ở mức thấp theo đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện M tỉnh Điện Biên và Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 17 giờ 00 phút ngày 22/6/2024 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Vàng Thị V bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ
công tác Đồn Biên Phòng N đã tạm giữ của bị cáo 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, và niêm phong vật chứng gửi giám định hồi 09 giờ 00 phút ngày 23/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bút lục số 24 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Vàng Thị V là 0,22 gam nghi là Heroine gửi toàn bộ đi giám định.
Kết luận giám định số 1130/KL-KTHS ngày 29/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 26 đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng Thị V là 0,22 gam là chất ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Vàng Thị V có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vàng Thị V có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
[2] Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng gói Heroine thu giữ của Vàng Thị V là 0,22 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 đến dưới 05 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
[3] Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Vàng Thị V là người phụ nữ dân tộc Mông, sinh sống tại xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người sử dụng ma túy nhiều năm và chưa từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt ở mức thấp theo đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Vàng Thị V.
[8] Về vật chứng: Vật chứng là 0,22 gam Heroine, gửi toàn bộ đi giám định và được hoàn lại 0,18 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon màu hồng không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[11] Các vấn đề khác: Nguồn gốc ma túy bị thu giữ bị cáo khai nhận mua một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng Thị V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị V 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 22/6/2024.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine và 01 mảnh nilon màu hồng là vật chứng còn lại sau giám định. Vật chứng được đựng trong 02 gói niêm phong có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 26/8/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Vàng Thị V.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Vàng Thị V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/9/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vàng Thị V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
