TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày: 17 – 9 – 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Văn Duẩn.
2/ Bà Phan Thị Duệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST – HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Vi Văn Đ, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1969 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T (đã chết) và bà Lô Thị T1 (đã chết); có vợ là Lữ Thị L và 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án Hình sự sơ thẩm số 61/HSST ngày 25/10/2002 (đã được xóa án tích). Năm 2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án Hình sự sơ thẩm số 205/06/HSST ngày 06/7/2006 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến nay. (Có mặt)
- Họ và tên: Vi Văn N, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1984 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T (đã chết) và bà Lô Thị T1 (đã chết); có vợ là Lương Thị D và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến nay. (Có mặt)
1
- Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Chị Lương Thị D, sinh năm: 1986. Trú tại: bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
2. Anh Hồ Anh T3, sinh năm: 1990. Trú tại: bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: 1. Anh Võ Văn G, sinh năm: 1996. Trú tại: bản P, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm: 1990. Trú tại: bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 14/3/2024 Vi Văn Đ đi bộ một mình từ nhà ở bản K, xã C đến khu vực nghĩa trang B, xã C với mục đích tìm mua ma túy để bán lại kiếm lời, tại khu vực nghĩa trang B gặp một người phụ nữ không quen biết, sau khi hỏi biết người phụ nữ có ma túy nên Đ hỏi mua 01 (một) gói ma túy với số tiền là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng). Sau khi về nhà Đài chia gói ma túy mua được ra thành 22 (hai mươi hai) gói nhỏ (trong đó 20 gói được bọc bằng hai lớp, lớp ngoài cùng bọc bằng mảnh bao nilon màu vàng, lớp bên trong bọc bằng mảnh giấy màu trắng, 02 gói còn lại được bọc bằng mảnh giấy màu trắng), các gói ma túy được Đ cất giấu ở nhiều vị trí khác nhau trong nhà (gồm 03 (ba) gói để dưới tấm phản gỗ trong nhà; 11 (mười một) gói bỏ trong hộp nhựa tròn màu trắng; 04 (bốn) gói trong một hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng cất giấu tại gian ngoài hiên giáp với phòng ngủ; 01 (một) gói để trên mép cửa sổ phòng ngủ; 01 (một) gói để trên kệ gỗ giáp tủ tivi và 02 (hai) gói để trong túi quần đang mặc).
Tối cùng ngày có Vi Văn N là em ruột của Đ ở trong xóm sang chơi, lúc sang Năm có cầm theo chiếc điện thoại di động của vợ là chị Lương Thị D để phòng có việc liên lạc cho tiện (chị D sử dụng 02 chiếc điện thoại), Năm ngồi chơi được một lúc thì có Hồ Anh T3, Nguyễn Văn K và Võ Văn G cũng đi đến nhà của Đ ngồi chơi, trong lúc ngồi nói chuyện T3 hỏi Đ có ma túy bán không lấy cho 02 (hai) gói để sử dụng thì được Đ đồng ý đồng thời lấy từ trong túi quần mình đang mặc ra 02 (hai) gói ma túy đưa cho T3, sau khi có ma túy T3 và G cùng nhau sử dụng 01 (một) gói còn K và Năm cùng nhau sử dụng 01 (một) gói, việc sử dụng ma túy các đối tượng không xin phép hay nói gì với Đài, tuy biết các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà của mình nhưng Đ cũng không phản đối hay có hành động gì ngăn cản mà để mặc cho các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà của mình. Sau khi sử dụng ma túy xong do không có tiền mặt T3 muốn thanh toán bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản, nhưng Đ cho biết mình không có số tài khoản, biết vợ chồng Năm có số tài khoản nên nói với T3 chuyển
2
tiền qua số tài khoản của N, tuy biết số tiền nhờ chuyển qua tài khoản là tiền T3 mua ma túy với Đ nhưng Năm không phản đối mà đồng ý đọc số tài khoản (trong điện thoại có cài đặt sẵn ứng dụng có số tài khoản ngân hàng C, số tài khoản mang tên Lương Thị D vợ của N) để T3 chuyển khoản số tiền 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng), sau khi kiểm tra Năm thông báo lại cho Đ biết T3 đã chuyển số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), số tiền đó Năm dự định sau đó sẽ rút đưa lại cho Đ sau. Sau khi các đối tượng sử dụng xong 02 (hai) gói ma túy đã mua Đài nghĩ các đối tượng sẽ có nhu cầu mua ma túy để tiếp tục sử dụng nên Đ đứng dậy đi vào gian bên ngoài hiên giáp phòng ngủ lấy trong ống nhựa tròn màu trắng ra 05 (năm) gói ma túy bỏ vào túi quần đang mặc rồi đi đến chỗ bàn uống nước nơi các đối tượng đang ngồi, sau đó Đ lấy ra 04 (bốn) gói ma túy đặt lên bàn uống nước nhằm mục đích xem ai có nhu cầu mua sẽ tiếp tục bán. Trong lúc các đối tượng đang ngồi nói chuyện thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra hành chính bắt quả tang, thu giữ 20 (hai mươi) gói ma túy còn lại mà Đ đang cất giấu, cụ thể thu trên bàn uống nước 04 (bốn) gói, 01 (một) gói trong túi quần Đài đang mặc, 03 (ba) gói dưới phản gỗ, 10 (mười gói) tại gian bên ngoài hiên giáp phòng ngủ (trong đó có 06 gói trong hộp nhựa tròn màu trắng và 04 gói trong hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng), 01 (một) gói trên mép cửa sổ phòng ngủ, 01 (một) gói trên kệ gỗ giáp tủ ti vi, tất cả các gói bên trong đều chứa chất bột rắn màu trắng (nghi là ma túy), tổ công tác tiến hành lập biên bản đưa các đối tượng về trụ sở điều tra, xử lý theo quy định.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 15/3/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định có 07 (bảy) gói niêm phong:
- Gói niêm phong thứ nhất có 04 (bốn) gói chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), cả 04 (bốn) gói bọc bằng hai lớp, lớp ngoài cùng bọc bằng mảnh bao nilong màu vàng, lớp trong cùng bọc bằng mảnh giấy màu trắng, cả 04 (bốn) gói có tổng khối lượng cả bì là 0,49g (Không phẩy bốn mươi chín gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,12g (Không phẩy mười hai gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy, ký hiệu là M1.
- Gói niêm phong thứ hai có 03 (ba) gói chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), trong đó có 02 (hai) gói được bọc bằng mảnh giấy màu trắng, 01 gói được bọc lớp ngoài cùng bằng mảnh bao nilong màu vàng, bên trong được bọc bằng mảnh giấy màu trắng, cả 03 (ba) gói có tổng khối lượng cả bì là 0,24g (Không phẩy hai mươi bốn gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,05g (Không phẩy không năm gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy, ký hiệu là M2.
- Gói niêm phong thứ ba có 01 (một) gói chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), được bọc lớp ngoài cùng bằng mảnh bao nilong màu vàng, bên trong được bọc bằng mảnh giấy màu trắng, có tổng khối lượng cả bì là 0,11g (Không
3
phẩy mười một gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,02g (Không phẩy không hai gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy, ký hiệu là M3.
- Gói niêm phong thứ tư có 01 (một) gói chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), được bọc lớp ngoài cùng bằng mảnh bao nilong màu vàng, bên trong được bọc bằng mảnh giấy màu trắng, có tổng khối lượng cả bì là 0,15g (Không phẩy mười lăm gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,04g (Không phẩy không bốn gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy, ký hiệu là M4.
- Gói niêm phong thứ năm có 01 (một) gói chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), được bọc bằng mảnh giấy màu trắng, có tổng khối lượng cả bì là 0,22g (Không phẩy hai mươi hai gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,08g (Không phẩy không tám gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy, ký hiệu là M5.
- Gói niêm phong thứ sáu có 06 (sáu) gói chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), mỗi gói đều được bọc lớp ngoài cùng bằng mảnh bao nilong màu vàng, bên trong được bọc bằng mảnh giấy màu trắng, cả 06 (sáu) gói có tổng khối lượng cả bì là 0,78g (Không phẩy bảy mươi tám gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,2g (Không phẩy hai gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,1g (Không phẩy một gam) chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy, ký hiệu là M6.
- Gói niêm phong thứ bảy có 04 (bốn) gói chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), mỗi gói đều được bọc lớp ngoài cùng bằng mảnh bao nilong màu vàng, bên trong được bọc bằng mảnh giấy màu trắng, cả 04 (bốn) gói có tổng khối lượng cả bì là 0,49g (Không phẩy bốn mươi chín gam); Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,11g (Không phẩy mười một gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy toàn bộ chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy, ký hiệu là M7.
Số vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định bao gồm: Các mảnh bao nilon màu vàng, mảnh giấy màu trắng, 0,1 g (không phẩy một gam) chất rắn màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.
Kết luận giám định số: 336 /KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 22/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “- 07 (bảy) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M7) thu giữ của Vi Văn Đ gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất rắn màu trắng (20 gói) thu giữ của Vi Văn Đ có tổng khối lượng là 0,62g (không phẩy sáu mươi hai gam).”
4
Bản cáo trạng số: 64/CT-VKS-QC ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Vi Văn Đ về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Vi Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Vi Văn Đ chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam. Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam. Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm 0,1g (không phẩy một gam) ma túy (Heroine) còn lại, các mảnh bao nilon màu vàng, mảnh giấy màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao lấy mẫu, niêm phong cũ đã được niêm phong lại theo đúng quy định.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Trả lại cho Hồ Anh T3 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone7, dạng màn hình cảm ứng, đã vỡ màn hình, số IMEI: 35 918507 444613 5, gắn thẻ sim số 0383 733 567, điện thoại đã qua sử dụng. Trả lại cho chị Lương Thị D 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y178, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI: 86 497306 993776 4, gắn thẻ sim số 0976 372 245, điện thoại đã qua sử dụng.
- Lời bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đến các yếu tố các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, khối lượng ma túy ít, gia đình khó khăn, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều
5
251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn Đ mức án 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đ chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn N mức án 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là hợp lý. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bổ sung thêm vào lời bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, làm rõ những nội dung liên quan, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo, căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng là đúng quy định.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; biên bản mở niêm phong kiểm tra dữ liệu điện thoại di động và niêm phong lại; bản ảnh; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Tối ngày 14/3/2024 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động có dấu hiệu tội phạm tại nhà của bị cáo Vi Văn Đ ở bản K, xã C, huyện Q,
6
tỉnh Nghệ An. Lực lượng Công an huyện Q tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, phát hiện thu giữ tổng cộng 20 (hai mươi) gói nhỏ ma túy (Heroine) có tổng khối lượng sau khi loại bỏ bao bì là 0,62g (không phẩy sáu mươi hai gam) mà bị cáo Đ thừa nhận cất giấu với mục đích bán lại kiếm lời, về nguồn gốc ma túy bị cáo Đ khai nhận trước đó tại khu vực nghĩa địa bản Định Tiến, xã C, huyện Q bị cáo đã gặp và mua được từ một người phụ nữ không quen biết, không rõ lai lịch 01 (một) gói ma túy với số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), sau khi mua được ma túy bị cáo chia ra thành 22 (hai mươi hai) gói nhỏ cất giấu ở nhiều vị trí khác nhau trong nhà với mục đích để bán lại kiếm tiền lời.
Tại thời điểm kiểm tra trong nhà bị cáo Đ còn có bị cáo Vi Văn N và các đối tượng Hồ Anh T3, Nguyễn Văn K, Võ Văn G cũng đang có mặt, các bị cáo và các đối tượng khai nhận, trước khi lực lượng Công an vào kiểm tra Hồ Anh T3 đã mua 02 (hai) gói ma túy với Đ để sử dụng xong, sau khi mua được ma túy T3 với G sử dụng chung 01 (một) gói ma túy, còn K với N sử dụng chung 01 (một) gói ma túy ngay tại nhà ở của bị cáo Đ, bị cáo Đ biết nhưng không phản ứng để mặc các đối tượng sử dụng ma túy tại nơi ở do mình quản lý, sau khi sử dụng ma túy xong do không có tiền mặt nên T3 đề nghị thanh toán tiền qua số tài khoản ngân hàng, do không có số tài khoản nên bị cáo Đ đã nhờ bị cáo N (là em trai của mình) đọc số tài khoản để T3 chuyển tiền vào, sau này bị cáo N sẽ rút trả lại cho bị cáo Đ sau, bị cáo N biết rõ số tiền chuyển vào tài khoản là tiền mua ma túy nhưng vẫn đồng ý nhận hộ bị cáo Đ.
Hành vi của bị cáo Vi Văn Đ đã cấu thành các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Vi Văn N đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo Đ đã từng bị xử lý hình sự về các tội danh liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho mình để chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chỉ vì nhằm muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng, nhanh chóng và không mất sức lao động nhằm để thỏa mãn nhu cầu riêng của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để các bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở
7
thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ từ trước. Trong vụ án bị cáo Đ là người giữ vai trò chính, tự mình thực hiện hành vi mua ma túy về chia nhỏ ra với mục đích bán lại kiếm lời hưởng lợi, sau khi bán ma túy cho Hồ Anh T3 đã để mặc các đối tượng sử dụng ma túy tại nơi ở thuộc quyền quản lý của mình nên phải chịu trách nhiệm đối các tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo N giữ vai trò là người giúp sức cho bị cáo Đ trong việc bán ma túy, khi biết sự việc T3 mua ma túy với Đài với mục đích để sử dụng và nhờ số tài khoản để T3 chuyển tiền mua ma túy qua cho Đ, bị cáo N biết rõ sự việc nhưng vẫn đồng ý nên phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm.
[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với tài liệu huy chương kháng chiến chống mỹ hạng nhì mang tên ông Vi Minh T4 gia đình các bị cáo cung cấp, xét thấy giữa các bị cáo với ông T4 có mối quan hệ chú cháu không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau, bản thân ông T4 có gia đình riêng, các bị cáo không có công chăm sóc, nuôi dưỡng hay thờ tự ông T4 nên Hội đồng xét xử không chấp nhận xem xét đó là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256 Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo, khó khăn, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Vi Văn Đ, cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo tai khu vực nghĩa trang B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các đối tượng Hồ Anh T3, Võ Văn G và Nguyễn Văn K chưa đủ yếu tố để xử lý hình sự nhưng đã vi phạm lĩnh vực trật tự an ninh xã hội nên bị cơ quan Công an ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Việc bị cáo Vi Văn Đ mua ma túy về chia nhỏ, cất giấu nhiều vị trí trong nhà để nhằm mục đích bán kiếm lời, cũng như có hành vi để mặc các đối tượng
8
sử dụng ma túy trong nhà ở của mình, người thân trong gia đình bị cáo Đ không biết và chứng kiến, do đó cơ quan Công an không xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người thân trong gia đình của bị cáo Đ là có căn cứ.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Heroine) 0,62g (không phẩy sau mươi hai gam) thu được từ bị cáo gửi đi giám định còn lại 0,1g (không phẩy một gam) là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành dưới mọi hình thức nên cần tịch thu tiêu hủy, những vật chứng còn lại bao gồm các mảnh bao nilon màu vàng, mảnh giấy màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) chị Lương Thị D rút từ tài khoản của mình ra giao nộp và 01 (một) chiếc điện thoại thu giữ của Hồ Anh T3, nhãn hiệu Iphone7, dạng màn hình cảm ứng, đã vỡ màn hình, số IMEI: 35 918507 444613 5, gắn thẻ sim số 0383 733 567, điện thoại đã qua sử dụng được xác định là công cụ, phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Vật chứng 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y178, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI: 86 497306 993776 4, gắn thẻ sim số 0976 372 245, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ từ bị cáo Vi Văn N được xác định là tài sản hợp pháp của chị Lương Thị D, việc bị cáo N sử dụng chiếc điện thoại vào mục đích phạm tội chị D không biết và không có lỗi, do đó cần xem xét trả lại cho chị Lương Thị D.
[8] Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Vi Văn Đ chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 14/3/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn N 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 14/3/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 0,1g (không phẩy một gam) chất ma túy (heroine) còn lại, các mảnh bao nilon màu vàng, mảnh giấy màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ. Toàn bộ mẫu vật còn lại được bỏ vào 01 (một) phong bì
9
thư mặt trước ghi “Mẫu vật còn lại của Vi Văn Đ cùng đồng bọn thuộc vụ Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 14/3/2024 tại xã C, huyện Q”...
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại thu giữ của Hồ Anh T3, nhãn hiệu Iphone7, dạng màn hình cảm ứng, đã vỡ màn hình, số IMEI: 35 918507 444613 5, gắn thẻ sim số 0383 733 567, điện thoại đã qua sử dụng.
Trả lại cho chị Lương Thị D 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y178, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI: 86 497306 993776 4, gắn thẻ sim số 0976 372 245, điện thoại đã qua sử dụng. (Những vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 13/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) (Vật chứng được gửi bảo quản tại Kho bạc Nhà nước Q theo biên bản giao nhận tài sản số 30/2024/BBBG-KBNN ngày 12/9/2024 có bảng kê chi tiết tài sản kèm theo giữa Công an huyện Q và Kho bạc Nhà nước Q).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Vi Văn Đ và Vi Văn N chịu án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lương Thị D, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Anh T3. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |
10
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và "chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Đ có hành vi bán 02 gói ma túy (Heroine) cho T và ba người sử dụng ngay tại nhà của mình việc mua bán Đ nhờ N cho sử dụng số tài khoản để T chuyển tiền mua ma túy vào, khi cơ quan điều tra Công an tiến hành kiểm tra khám xét thu giữ thêm 20 gói ma túy (Heroine) đang cất giấu chưa kịp bán có tổng trọng lượng sau khi loại bỏ bao gói là 0,62g.
