|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2024 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Ngâm và ông Lý Công Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.
Vào ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/QĐXX-ST ngày 07/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu N, sinh năm: 1991; HKTT: 0 L, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Hiện ở: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phú H, sinh năm: 1991; Địa chỉ: 0 L, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Thu N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (N) và anh Nguyễn Phú H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại U, thành phố T vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng gia đình chồng tại 0 L, Phường B, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh H không còn chăm lo gia đình, không quan tâm vợ con, còn cờ bạc gây nợ nần. Tôi đã khuyên can nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng cũng được hai bên gia đình hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng anh H vẫn không khắc phục được. Đến tháng 5/2021 thì anh H bỏ việc làm, bỏ gia đình vợ con đi đâu không rõ để tôi một mình xoay xở nuôi 02 con. Đến tháng 8/2021, tôi đã về nhà cha mẹ ruột ở xã H, huyện P sống cho đến nay, vợ chồng không còn ai quan tâm đến ai. Nay thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể khắc phục được nữa nên tôi làm đơn xin được ly hôn với anh H để ổn định cuộc sống. Việc ly hôn tôi đã thông báo cho anh H biết, anh H đồng ý nhưng không đến Tòa làm việc nên tôi đề nghị Tòa không tiến hành hòa giải nữa.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Võ Đức H1, sinh ngày 01/6/2016 và Nguyễn Võ Hương T, sinh ngày 23/11/2018. Hiện các con đang sống cùng tôi, tôi đủ điều kiện để nuôi dưỡng tốt cả 02 con. Do đó, ly hôn tôi xin nuôi 02 con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với bị đơn; về con chung: xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Võ Đức H1 và Nguyễn Võ Hương T, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nguyên đơn được ly hôn bị đơn. Về con chung: Giao 02 con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Phú H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Võ Thị Thu N và bị đơn ông Nguyễn Phú H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường U, thành phố T, Phú Yên vào năm 2015, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như đương sự trình bày. Từ tháng 8/2021 cho đến nay, nguyên đơn và bị đơn đã không còn sống chung với nhau, không còn ai quan tâm đến ai, là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
[4] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Võ Đức H1, sinh ngày 01/6/2016 và Nguyễn Võ Hương T, sinh ngày 23/11/2018. Hiện các con đang sống cùng nguyên đơn. Ly hôn, nguyên đơn xin được nuôi 02 con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, các con đang sống cùng mẹ và con Nguyễn Võ Đức H1 trên 07 tuổi có có nguyện vọng xin được ở với mẹ nên để đảm bảo ổn định cuộc sống của các con, HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 02 con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Do nguyên đơn không yêu cầu nên bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu N được ly hôn ông Nguyễn Phú H.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Võ Đức H1, sinh ngày 01/6/2016 và Nguyễn Võ Hương T, sinh ngày 23/11/2018 cho bà Võ Thị Thu N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Phú H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- - Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nguyên đơn bà Võ Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002311 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đào Thị Ngâm Lý Công Nguyên |
Trần Lê Mai |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn xin ly hôn bị đơn
