Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HS-ST

Ngày: 16-11-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ

2. Ông Ngô Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: 1. Ông Hồ Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

2. Ông Lê Thanh T – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Võ Thanh T1

sinh năm 2002, tại An Giang; Nơi ĐKHKTT: khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Thanh L, sinh năm: 1981 và bà Huỳnh Thị Mỹ C, sinh năm: 1985; anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là người lớn nhất; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2023, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn B, sinh năm 2004 (vắng mặt);
  2. Ngô Phước H, sinh năm 2005 (có mặt);
  3. Nguyễn Đông H1, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.

  1. Dương Văn L1, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Địa chỉ ĐKHKTT: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang.

Chổ ở hiện nay: nhà T, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.

  1. Huỳnh Kiến P, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  1. Ngô Thị Kim N, sinh năm 1998 (vắng mặt);

Địa chỉ: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

* Người chứng kiến:

Anh Khưu Quốc T2, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang

* Người làm chứng:

1/ Anh Đỗ Thanh T3, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang

Nơi làm việc: Phòng C1 – Công an tỉnh A

2/ Anh Hứa Thiện Đ, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi làm việc: Phòng Cảnh sát bảo vệ – Công an tỉnh A

3/ Anh Chau Bunh Na T4, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang

Nơi làm việc: Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/4/2023, Tổ đặc nhiệm số 2 thuộc Phòng C1 - Công an tỉnh A tuần tra kiểm soát trên đường T hướng T - L. Khi đến khu vực cầu S thuộc tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang phát hiện Võ Thanh T1 vừa dừng xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98 cặp lề đường bên phải hướng L - T cùng Nguyễn Văn B và Nguyễn Phước H2 đang ngồi trên xe mô tô biển số: 63B1 - 370.61 dừng cặp lề đường. Tổ đặc nhiệm tiến hành kiểm tra, thì T1 bỏ dép chân phải, rồi dùng chân phải đá cuộn giấy màu trắng vào gầm xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98 của T1. Tổ đặc nhiệm kiểm tra cuộn giấy màu trắng, phát hiện bên trong có 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa 06 viên nén màu cam, 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng và 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh, chứa tinh thể màu trắng, nên Tổ đặc nhiệm bắt quả tang T1 cùng tang vật bàn giao cho Công an thị trấn V lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. T1 khai nhận, tang vật bị thu giữ là ma túy của Lê Hùng S thuê T1 đem đến T cho người mua với giá 5.100.000 đồng nhưng chưa bán được thì bị bắt.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Võ Thanh T1:

+ 01 cuộn giấy màu trắng, bên trong có 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa 06 viên nén màu cam, 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng và 01 bọc nylon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh, chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy).

+ 01 xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VARIO 150, màu sơn: Bạc xanh, số máy: KF41E1715056, số khung: MH1KF4111KK712430.

+ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu trắng, số imei: 355126468647510, số imei 2: 355126468985753, có gắn sim số: 0706535459.

+ 01 đôi dép, màu nâu đen có chữ DIOR.

+ Tiền Việt Nam 800.000 đồng.

- Thu giữ của Nguyễn Văn B:

+ 01 xe mô tô biển số: 63B1 - 370.61, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RS, màu sơn: Đỏ đen, số máy: JC52E1380914, số khung: RLHJC5288DY078612.

+ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11, màu trắng đen, số imei 1: 866988040579252, số imei 2: 866988040579244, có gắn sim số: 0933027956.

+ Tiền Việt Nam: 5.100.000 đồng.

* Căn cứ Kết luận giám định số 77/KL-KTHS(MT-GT) ngày 27/4/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận:

- Mẫu M1, M2 gửi đến giám định là ma túy, loại: Ketamine, có tổng khối lượng: 2,5259 gam (Hai phẩy năm hai năm chín gam);

- Mẫu M3 gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng: 2,1638 gam (Hai phẩy một sáu ba tám gam).

* Căn cứ Kết luận giám định số 198/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 16/6/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận:

Trích xuất 23 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi đến giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục gồm 09 trang A4

Ngày 27/4/2023, Võ Thanh T1 bị khởi tố điều tra.

Tại Bản cáo trạng số: 59/CT-VKS ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Võ Thanh T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo khai nhận ngày 20/4/2023, Lê Hùng S thuê bị cáo đem ma túy đến khu vực cầu S thuộc tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang bán nhưng chưa bán được thì bị bắt quả tang phù hợp như nội dung vụ án nêu trên. Ngoài ra, trước đó S thuê bị cáo đem ma túy đến khu vực nghĩa trang T6 thị trấn A và khu vực cầu S thuộc T 03 lần cho những người nam (không rõ họ tên, địa chỉ), bị cáo được S trả tiền công 300.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Người chứng kiến anh Khưu Quốc T2 trình bày: vào ngày 20/4/2023 anh có chứng kiến lực lượng Công an bắt quả tang Võ Thanh T1 tàng trữ trái phép chất ma túy phù hợp như nội dung vụ án nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn B, Ngô Phước H, Nguyễn Đông H1, Dương Văn L1 cùng trình bày: Biển hùn 900.000 đồng, H hùn 500.000 đồng, Hồ hùn 1.100.000 đồng, L1 hùn 1.100.000 đồng và T1 (không rõ họ, địa chỉ) hùn 1.500.000 đồng, tổng cộng là 5.100.000 đồng để cùng nhau mua ma túy sử dụng. Sau đó, T1 điện thoại hỏi mua ma túy rồi Biển điều khiển xe mô tô biển số: 63B1 - 370.61 chở H đem theo số tiền 5.100.000 đồng đi nhận ma túy. Khi đến khu vực cầu S thuộc tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang, B và H dừng xe cặp lề đường đợi bị cáo Võ Thanh T1 đến giao ma túy, khi bị cáo T1 vừa điều khiển xe đến dừng song song với xe của B và H chưa giao dịch mua bán ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang phù hợp như nội dung vụ án đã nêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Kiến P trình bày: P là chủ Công ty TNHH một thành viên T7, chuyên kinh doanh mua bán xe mô tô, xe gắn máy. Ngày 24/10/2022, P có làm hợp đồng bán cho Ngô Thị Kim N xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98 với giá 49.000.000 đồng, N trả trước 24.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng Ngân trả góp hàng tháng cho P, đến ngày 16/9/2023, N còn nợ lại 9.000.000 đồng. P không biết Võ Thanh T1 sử dụng xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98 đi bán ma túy. Do P đã bán xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98 cho N, nên P không có yêu cầu gì đối với xe mô tô này, trường hợp N không trả số tiền mua xe 9.000.000 đồng còn lại thì P cũng không yêu cầu N phải trả nữa.

Người làm chứng Đỗ Thanh T3, Hứa Thiện Đ, Chau Bunh Na T4 cùng trình bày tham gia Tổ đặc nhiệm số 2 thuộc Phòng C1 - Công an tỉnh A tuần tra kiểm soát trên đường T. Khi đến khu vực cầu S thuộc tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang, Tổ đặc nhiệm phát hiện, bắt quả tang Võ Thanh T1 tàng trữ trái phép chất ma túy phù hợp như nội dung vụ án nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thanh T1 mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 21/4/2023);

Về xử lý vật chứng:

  • - 01 phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số: 77/KTHS (MT-GT) ngày 27/4/2023) có in dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký tên Nguyễn Đăng K, Sun Sam B1, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: mẫu 1: 1,7875 gam (một phẩy bảy tám bảy năm gam), mẫu 2: 0,5876 gam (không phẩy năm tám bảy sáu gam), mẫu 3: 1,8963 gam (một phẩy tám chín sáu ba gam). Đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (8,3x5)cm; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh, kích thước (4,2x4)cm; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (3,2x3)cm. Đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VARIO 150, màu sơn: Bạc xanh, số máy: KF41E1715056, số khung: MH1KF4111KK712430. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, chưa xác minh được chủ sở hữu, đề nghị giao cho Đ1 - Trật tự Công an huyện C, tỉnh An Giang xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu trắng, số imei: 355126468647510, số imei 2: 355126468985753, có gắn sim số: 0706535459, đây là phương tiện liên lạc bị cáo dùng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • - 01 đôi dép, màu nâu đen có chữ DIOR, vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không không yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - Tiền Việt Nam 800.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, đề nghị trả lại cho bị cáo.
  • - 01 xe mô tô biển số: 63B1 - 370.61, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RS, màu sơn: Đỏ đen, số máy: JC52E1380914, số khung: RLHJC5288DY078612, đây là phương tiện không dùng vào việc phạm tội, đề nghị trao trả cho Nguyễn Văn B.
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11, màu trắng đen, số imei 1: 866988040579252, số imei 2: 866988040579244, có gắn sim số: 0933027956 đây là phương tiện không dùng vào việc phạm tội, đề nghị trao trả cho Nguyễn Văn B.
  • - Tiền Việt Nam: 5.100.000 đồng, đây là tiền người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sử dụng để mua chất ma túy nhưng chưa mua được, đề nghị trả lại cho Nguyễn Văn B.

Đối với:

  • - Võ Thanh T1 khai được Lê Hùng S thuê đi bán ma túy, S không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
  • - Võ Thanh T1 khai ngoài lần đi bán ma túy bị bắt quả tang thì T1 còn được Lê Hùng S thuê đi bán ma túy 03 lần nữa, nhưng ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh hành vi phạm tội, nên áp dụng nguyên tắc có lợi, không xử lý đối với bị cáo.
  • - Nguyễn Văn B, Ngô Phước H, Nguyễn Đông H1, Dương Văn L1 hùn tiền nhằm mục đích mua ma túy của T1 để sử dụng, nhưng chưa mua được ma túy nên không xử lý.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn B, Nguyễn Đông H1, Dương Văn L1, Huỳnh Kiến P, Ngô Thị Kim N; người chứng kiến Khưu Quốc T2 và những người làm chứng Đỗ Thanh T3, Hứa Thiện Đ, Chau Bunh Na T4 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án

[2] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận ngày 20/4/2023 bị cáo nhận ma túy từ Lê Hùng S mang đến khu vực cầu S thuộc khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang để bán cho Nguyễn Văn B và Ngô Phước H nhưng chưa thực hiện được hành vi thì bị lực lượng Công an bắt quả tang với chất ma túy là loại MDMA, có khối lượng: 2,1638 gam và chất ma túy, loại: Ketamine, có khối lượng: 2,5259 gam. Hành vi này của bị cáo cất giấu chất ma túy nhằm bán lại cho người khác để tìm kiếm lợi nhuận nhưng chưa đạt do bị cáo bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Thanh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, là mầm móng của các tội phạm khác. Bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, do đó cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng là 01 phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số: 77/KTHS (MT-GT) ngày 27/4/2023) có in dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký tên Nguyễn Đăng K, Sun Sam B1, bên trong chứa mẫu vật là chất ma túy còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: mẫu 1: 1,7875 gam (một phẩy bảy tám bảy năm gam), mẫu 2: 0,5876 gam (không phẩy năm tám bảy sáu gam), mẫu 3: 1,8963 gam (một phẩy tám chín sáu ba gam); 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (8,3x5)cm; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh, kích thước (4,2x4)cm; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (3,2x3)cm. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xem xét tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật chứng là 01 xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VARIO 150, màu sơn: Bạc xanh, số máy: KF41E1715056, số khung: MH1KF4111KK712430. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội, bị cáo khai nhận thuộc sở hữu của bị cáo, tuy nhiên qua xác minh thì xe mô tô nói trên do Ngô Thị Kim N mua trả góp tại công ty TNHH một thành viên T7 của anh Huỳnh Kiến P, cơ quan điều tra không làm việc được với Ngô Thị Kim N nên chưa xác định được chủ sở hữu của xe mô tô nói trên. Hội đồng xét xử quyết định giao cho Đ1 - Trật tự Công an huyện C, tỉnh An Giang xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

- Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu trắng, số imei: 355126468647510, số imei 2: 355126468985753, có gắn sim số: 0706535459, đây là phương tiện liên lạc bị cáo dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xem xét tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là 01 đôi dép, màu nâu đen có chữ DIOR, vật chứng không còn giá trị sử dụng Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xem xét tịch thu, tiêu hủy

- Đối với vật chứng là Tiền Việt Nam 800.000 đồng, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự xem xét trả lại cho bị cáo.

- Đối với vật chứng là 01 xe mô tô biển số: 63B1 - 370.61, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RS, màu sơn: Đỏ đen, số máy: JC52E1380914, số khung: RLHJC5288DY078612 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11, màu trắng đen, số imei 1: 866988040579252, số imei 2: 866988040579244, có gắn sim số: 0933027956. Đây là phương tiện Nguyễn Văn B khai mượn của Nguyễn Đông H1 để đi mua ma túy nhưng chưa mua được thì bị cáo bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Qua xác minh xe mô tô biển số 63B1 - 370.61 do Nguyễn Văn B là người quản lý cuối cùng. Vật chứng này không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho người quản lý cuối cùng là Nguyễn Văn B xe mô tô biển số 63B1 - 370.61 nêu trên là phù hợp. Trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

- Đối với vật chứng là Tiền Việt Nam: 5.100.000 đồng, đây là tiền người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn B, Ngô Phước H, Nguyễn Đông H1, Dương Văn L1 góp lại để sử dụng vào việc mua chất ma túy, việc không mua được chất ma túy là ngoài ý muốn của những người này, do đó Hội đồng xét xử quyết định xem xét tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[6] Bị cáo Võ Thanh T1 khai được Lê Hùng S thuê đi bán ma túy, S không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[7] Bị cáo Võ Thanh T1 khai ngoài lần đi bán ma túy bị bắt quả tang thì T1 còn được Lê Hùng S thuê đi bán ma túy 03 lần nữa, nhưng ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 98 Bộ luật tố tụng hình sự không xử lý đối với bị cáo.

[8] Đối với Nguyễn Văn B, Ngô Phước H, Nguyễn Đông H1, Dương Văn L1 hùn tiền nhằm mục đích mua ma túy của T1 để sử dụng, nhưng chưa mua được ma túy nên không xử lý về hành vi này.

[9] Bị cáo Võ Thanh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
    • - Xử phạt bị cáo Võ Thanh T1 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 21/4/2023).
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số: 77/KTHS (MT-GT) ngày 27/4/2023) có in dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký tên Nguyễn Đăng K, Sun Sam B1, bên trong chứa mẫu vật là chất ma túy còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: mẫu 1: 1,7875 gam (một phẩy bảy tám bảy năm gam), mẫu 2: 0,5876 gam (không phẩy năm tám bảy sáu gam), mẫu 3: 1,8963 gam (một phẩy tám chín sáu ba gam); 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (8,3x5)cm; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh, kích thước (4,2x4)cm; 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu đỏ, kích thước (3,2x3)cm.
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 đôi dép, màu nâu đen có chữ DIOR
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 11, màu trắng, số imei: 355126468647510, số imei 2: 355126468985753, có gắn sim số: 0706535459.
    • - Giao cho Đ1 - Trật tự Công an huyện C, tỉnh An Giang xác minh, xử lý theo quy định pháp luật 01 xe mô tô biển số: 67B2 - 479.98, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VARIO 150, màu sơn: Bạc xanh, số máy: KF41E1715056, số khung: MH1KF4111KK712430.
    • - Trả lại cho bị cáo Võ Thanh T1 số tiền 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng).
    • - Trả lại cho Nguyễn Văn B 01 xe mô tô biển số: 63B1 - 370.61, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RS, màu sơn: Đỏ đen, số máy: JC52E1380914, số khung: RLHJC5288DY078612 và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11, màu trắng đen, số imei 1: 866988040579252, số imei 2: 866988040579244, có gắn sim số: 0933027956.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm ngàn đồng).

    (Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 48/QĐ-VKS ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Võ thanh T5 phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

  4. Về quyền kháng cáo : Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/11/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-THA – TAND tỉnh An Giang;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 62/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; - Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; - Xử phạt bị cáo Võ Thanh T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 21/4/2023)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger