Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày: 16-07-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Anh Tuấn

Ông Trịnh Bá Sơn

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Thị L; sinh năm 1983 tại tỉnh Nam Định; Giới tính: Nữ; ĐKTT: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Đào Vũ Q (đã chết); Con bà: Trần Thị H, sinh năm 1960; Chồng: Lê Duy A, sinh năm: 1982; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: Ngày 22/7/2021, TAND huyện Nghĩa Hưng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" (chấp hành xong thời gian thử thách ngày 22/01/2023). Tiền sự: Không. Bị cáo Đào Thị L bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1948;

Địa chỉ: Xóm E N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1990;
  2. Chị Vũ Thị N, sinh năm 1981;
  3. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1991;
  4. Chị Trần Thị T1, sinh năm 1984;
  5. Ông Nguyễn Xuân Q1, sinh năm 1965;
  6. Chị Phạm Thị L1, sinh năm 1990;
  7. Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1989;
  8. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1990;
  9. Anh Trần Đăng K1, sinh năm 1989.

Tại phiên tòa: Bị cáo Đào Thị L, bà Phạm Thị H1 có mặt. Vắng mặt những người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1948, trú tại xóm E N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định có thửa đất với diện tích 576m² tại xóm E N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Năm 2020, bà H1 bán khoảng 1/3 thửa đất cho hàng xóm là anh Trần Văn B, sinh năm 1971. Do không am hiểu các thủ tục hành chính về đất đai đồng thời có quen biết với Đào Thị L nên bà H1 đã đưa cho L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của thửa đất trên cùng các giấy tờ liên quan để nhờ L làm dịch vụ thực hiện các thủ tục hành chính để tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho bà H1.

Quá trình làm thủ tục, do cần tiền để sử dụng cá nhân nên ngày 29/6/2023 L đến nhà đặt vấn đề mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của bà H1 để thế chấp vay tiền và cam kết khoảng 10 ngày sau sẽ trả lại. Ban đầu bà H1 đồng ý và bảo L phải tự làm giấy tờ để vay tiền đồng thời phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 đúng hạn. Lúc này, L đã liên hệ với Nguyễn Xuân T, sinh năm 1990, trú tại số B T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định đặt vấn đề nhờ Tĩnh tìm người nhận thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của bà H1 để cho L vay 200.000.000 đồng, T đồng ý. L đã gửi hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 và hình ảnh thửa đất của bà H1 cho T. Thông qua sự giới thiệu của người quen là chị Vũ Thị N, sinh năm 1981, trú tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, T đã liên hệ và đặt vấn đề thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của bà H1 cho Nguyễn Văn N1, sinh năm 1991, trú tại thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định để vay tiền. Sau đó, T bảo L phải chở bà H1 đến thành phố N để bà H1 xác nhận đồng ý cho mượn thửa đất để vay tiền nhưng do trời tối nên bà H1 không đi. L thống nhất với T là sẽ làm Hợp đồng ủy quyền mua bán, chuyển nhượng thửa đất trên từ bà H1 để vay tiền và hẹn sáng ngày 30/6/2023 sẽ mang đến thành phố N đưa cho T thì T đồng ý với điều kiện bà H1 phải ký Hợp đồng ủy quyền.

Tuy nhiên, tối ngày 29/6/2023 sau khi tham khảo ý kiến của người thân thì bà H1 đổi ý và gọi điện thoại thông báo cho L biết là không đồng ý cho L mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 để thế chấp vay tiền nữa. Do vậy, L nảy sinh ý định làm giả Hợp đồng ủy quyền của bà H1. Thông qua mạng xã hội Facebook, L đã liên hệ với một người phụ nữ tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) và thuê P làm giả Hợp đồng ủy quyền mua bán, chuyển nhượng thửa đất từ bà H1 cho L với giá 200.000 đồng/01 bản. Sau đó, L đã cung cấp thông tin về thửa đất, thông tin cá nhân của bà H1 và của L cho P. Đến khoảng 08h ngày 30/6/2023, T liên hệ và bảo L phải làm Hợp đồng ủy quyền từ bà H1 sang cho T thì mới vay được tiền, do N1 chỉ quen biết Tĩnh mà không biết L. Đồng thời, T gửi hình ảnh Căn cước công dân của mình cho L để làm thủ tục. L liên hệ lại với P và yêu cầu làm giả 03 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà H1 cho T có chứng thực của UBND xã N, huyện N trong đó phần chữ ký tại mục "Bên B" - bên được ủy quyền để lại cho T tự ký thì P đồng ý và hẹn L khoảng 9h cùng ngày đến khu vực cầu N gần UBND xã N, huyện N để lấy tài liệu giả. Đúng giờ, L đến điểm hẹn thì gặp P đang đứng ở cầu N. P đưa cho L 03 Hợp đồng ủy quyền giả từ bà H1 cho T đề ngày 30/6/2023 trong đó đã có đầy đủ nội dung ủy quyền cùng chữ ký của bà Phạm Thị H1 tại mục "Bên A" - bên ủy quyền; nội dung chứng thực của UBND xã N có chữ ký xác nhận của Nguyễn Văn Q2 - Chủ tịch UBND xã N và hình dấu tròn của UBND xã N đóng lên trên. L nhận 03 bản Hợp đồng ủy quyền giả này và trả cho P 600.000 đồng.

Trưa ngày 30/6/2023, L rủ bạn là chị Trần Thị T1, sinh năm 1984, trú tại đội A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cùng đến thành phố N để gặp T. Khoảng 11h cùng ngày, LT1 đi đến khu vực nhà thờ tại chân cầu Đ, thành phố N, L nhắn tin từ tài khoản Zalo mang tên "Luong Hung Long K2" của mình đến tài khoản Zalo ""Nguyen Tinh" của T với nội dung "Ra đón c mà ký phần đ ủy quyền nữa". Khi T đến, L đứng tại xe rồi nhờ T1 đi ra đưa cho T 01 tập tài liệu bên trong có 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của bà H1; 03 bản Hợp đồng ủy quyền của bà H1 cho T cùng 01 bản photo Chứng minh nhân dân của bà H1. Khi cầm tập tài liệu, T1 chỉ nhìn thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bên ngoài mà không biết bên trong có những tài liệu gì. Sau khi nhận số tài liệu trên, T ký tên vào phần "Bên B" - bên được ủy quyền trong Hợp đồng ủy quyền rồi mang những giấy tờ trên đến gặp N1 để vay tiền.

Khoảng 15h ngày 30/6/2023, T gặp N1 đi cùng nhóm bạn của mình là Nguyễn Văn L2, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã N, huyện N tỉnh Nam Định và Trần Đăng K1, sinh năm 1989, trú tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định tại khu vực Văn phòng công chứng Nguyễn Duy H2, đường T, phường L, thành phố N. Tại đây, N1 thỏa thuận nếu Tĩnh làm Hợp đồng đặt cọc bán thửa đất tại xóm E N, xã N, huyện N của bà H1 cho nhóm của N1 thì T được vay 700.000.000 đồng còn nếu làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì T được vay 1.300.000.000 đồng. Do vậy, T thống nhất với N1 chỉ làm Hợp đồng đặt cọc để vay 700.000.000 đồng. Tĩnh đã đưa 03 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà H1 cho T cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 cho nhân viên Văn phòng C để làm Hợp đồng đặt cọc trong đó Trần Đăng K1 là người đứng tên trên hợp đồng đã đặt cọc tiền để mua thửa đất của bà Phạm Thị H1. Sau khi TK1 ký xong Hợp đồng đặt cọc, tất cả cùng về nhà Tĩnh tại số B T, phường L, thành phố N để bàn giao tiền. Tại đây, N1 giao cho T 545.000.000 đồng tiền mặt và chuyển vào tài khoản ngân hàng của T số tiền 72.000.000 đồng, số tiền 83.000.000 đồng còn lại thì N1 cắt luôn tiền lãi tháng đầu tiên. Sau đó, T đã viết Giấy biên nhận vay 700.000.000 đồng của K1. Mặc dù đã vay được tiền nhưng do trước đó L2 còn nợ T nhiều tiền nên T không đưa lại số tiền 200.000.000 đồng cho L2 như đã thỏa thuận từ trước mà nói với L2 là Hợp đồng ủy quyền của bà H1 cho T không vay được tiền đồng thời trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 cho L2.

Chiều ngày 30/6/2023, L2 chuẩn bị 02 bản Hợp đồng ủy quyền về việc chuyển nhượng, đặt cọc thửa đất của bà H1 cho L2 đề ngày 30/6/2023, tự đánh máy sẵn lời chứng thực của UBND xã N với nội dung trên 02 bản là hoàn toàn giống nhau. Sau đó, L2 nhờ 01 người đi đường (không rõ lai lịch, địa chỉ) ký giả chữ ký của bà Phạm Thị H1 tại mục "Bên A" - bên ủy quyền trên cả 02 bản Hợp đồng ủy quyền rồi mang đến bộ phận một cửa của UBND xã N để xin chứng thực. Tại đây, L2 gặp cán bộ tư pháp xã N là anh Nguyễn Văn K, nói dối là Hợp đồng ủy quyền này do cán bộ địa chính xã N chỉnh sửa nội dung nên phải ký lại. Vì biết bà Phạm Thị H1 có bán đất và nhờ L2 làm giúp các thủ tục hành chính về đất đai nên anh K tin tưởng, không kiểm tra lại mà mang đi trình Chủ tịch UBND xã N là ông Nguyễn Văn Q2 ký chứng thực. Ông Q2 tin tưởng cán bộ chuyên môn đã thẩm định nên đã ký chứng thực trên 02 bản Hợp đồng ủy quyền này rồi chuyển cho cán bộ văn thư - lưu trữ của UBND xã N là chị Phạm Thị L1, đóng dấu xác nhận sau đó đưa lại cho L2.

Ngày 01/7/2023, L2 tiếp tục nhờ T tìm giúp người cho vay tiền. Tĩnh đã liên hệ với một người quen tên là S ở Hà Nội thì anh S yêu cầu phải mang giấy tờ lên Hà Nội để xem, ngày 02/7/2023, anh S trả lời không đồng ý cho vay tiền.

Chiều ngày 03/7/2023, L2 cùng T1 tiếp tục mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 và 02 bản Hợp đồng ủy quyền của bà H1 cho L2 đến gặp Tĩnh tại khu vực ngã ba đường Đ - đường K, thành phố N để nhờ T vay tiền hộ. Tĩnh nhận tài liệu rồi đi về nhà. Sau đó, T gọi điện nói dối với L2 là đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của bà H1 cho người ở Ninh Bình để vay tiền nhưng chưa vay được. Đồng thời chiều cùng ngày, T đã đến Văn phòng công chứng Nguyễn Duy H2 gặp và cùng vợ chồng K1 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 576m² của bà H1 ở xóm E N, xã N, huyện N giữa bên chuyển nhượng là bà Phạm Thị H1Nguyễn Xuân T; bên nhận chuyển nhượng là Trần Đăng K1Hoàng Thị L3 với giá trị chuyển nhượng là 1.300.000.000 đồng để vay thêm tiền nhóm của N1.

Quá trình vay tiền những ngày sau, tại Văn phòng công chứng Nguyễn Duy H2 các bên đã lập văn bản thỏa thuận hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là bà Phạm Thị H1 - Nguyễn Xuân T và bên nhận chuyển nhượng là Trần Đăng K1 - Hoàng Thị L3. Sau đó, T cùng Nguyễn Văn L2 ký lại Hợp đồng đặt cọc và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 576m² của bà H1 giữa bên chuyển nhượng là bà Phạm Thị H1 - Nguyễn Xuân T với bên nhận chuyển nhượng là Nguyễn Văn L2 để làm tin. Sau khi ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, T đã bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của bà Phạm Thị H1 cho Nguyễn Văn L2 giữ.

Ngày 04/7/2023, L2 thấy chưa vay được tiền nên đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 của bà H1. Lúc này, T yêu cầu L2 phải trả lại toàn bộ số tiền Lương đã vay Tĩnh thì mới trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H1 nhưng L2 không đồng ý. Sau đó, T chưa trả lại L2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845 cũng như không đưa số tiền nào cho L2.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà Đào Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức của bản thân như trên.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T đã khai nhận sự việc như trên đồng thời T trình bày hoàn toàn không biết các bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Nguyễn Xuân T và từ bà Phạm Thị H1 cho Đào Thị L đều có chứng thực UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định mà L đưa cho T để nhờ vay tiền hộ là giả. Tĩnh đã đưa cho nhóm của Nguyễn Văn N1 03 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Nguyễn Xuân T để làm thủ tục vay tiền. Còn đối với 02 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Đào Thị L, T đã làm thất lạc 01 bản còn 01 bản Tĩnh giữ lại sau đó đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác minh tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định xác định tại Sổ chứng thực của UBND xã N chỉ ghi nhận: chứng thực số 570 ngày 30/6/2023 với nội dung "Hợp đồng ủy quyền Phạm Thị H1, sinh năm 1948 xóm E N", người ký là "Nguyễn Văn Q2 - Chủ tịch", ghi chú "02 bộ, 08 tờ, 08 trang".

* Về thu giữ vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845; 02 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Nguyễn Xuân T đề ngày 30/6/2023; 02 bản gốc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị H1, Nguyễn Xuân TNguyễn Văn L2 đề ngày 10/7/2023; hình ảnh nội dung tin nhắn giữa Nguyễn Văn N1Nguyễn Xuân T và 01 đĩa DVD lưu trữ file video ghi lại hình ảnh T nhận số tiền 545.000.000 đồng và viết "Giấy biên nhận tiền" vào ngày 30/6/2023 do Nguyễn Văn L2 tự nguyện giao nộp. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 bản gốc Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán tài sản đề ngày 30/6/2023 giữa bà Phạm Thị H1, anh Nguyễn Xuân TTrần Đăng K1; 01 bản gốc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày đề ngày 03/7/2023 giữa bà Phạm Thị H1 - Nguyễn Xuân TTrần Đăng K1 - Hoàng Thị L3; 01 bản gốc văn bản thỏa thuận ngày 06/7/2023 về việc hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 03/7/2023 giữa bà Phạm Thị H1 - Nguyễn Xuân TTrần Đăng K1 - Hoàng Thị L3; 01 bản gốc Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán tài sản đề ngày 06/7/2023 giữa bà Phạm Thị H1 - Nguyễn Xuân TNguyễn Văn L2; 01 bản gốc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 10/7/2023 giữa bà Phạm Thị H1 - Nguyễn Xuân TNguyễn Văn L2 do Văn phòng công chứng Nguyễn Duy H2 cung cấp. Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Đào Thị L đề ngày 30/6/2023; hình ảnh nội dung tin nhắn giữa Nguyễn Xuân TĐào Thị L; giữa Nguyễn Xuân TTrần Thị T1 cùng 01 Giấy biên nhận vay tiền và cam kết trả nợ mang tên Đào Thị L đề ngày 07/7/2023 do Nguyễn Xuân T tự nguyện giao nộp. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Đào Thị L hình ảnh nội dung tin nhắn giữa Đào Thị LNguyễn Xuân T cùng 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro max.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với các bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Nguyễn Xuân T và Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Đào Thị L đã thu giữ. Tại các bản Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 26/01/2024 và số 764/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N đã kết luận:

- Đối với 02 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Nguyễn Xuân T:

+ Chữ ký, chữ viết đứng tên "Nguyễn Xuân T" dưới mục "Bên B" trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra;

+ Chữ ký, chữ viết đứng tên "Phạm Thị H1" dưới mục bên A trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh không phải do cùng một người ký, viết ra;

+ Chữ ký đứng tên "Nguyễn Văn Q2" dưới mục "Chủ tịch" trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.;

+ Hình dấu "U.B.N.D XÃ NGHĨA HẢI" và hình dấu "CHỦ TỊCH NGUYỄN VĂN QUÂN" trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh không phải do con dấu có hình dấu có cùng nội dung đóng ra.

+ Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Văn Q2 dưới mục "Chủ tịch" trên mẫu cần giám định so với chữ ký đứng tên Nguyễn Văn Q2 do Đào Thị L ký ra trên mẫu so sánh có phải do cùng một người ký ra hay không.

- Đối với 01 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Đào Thị L:

+ Chữ ký, chữ viết đứng tên "Đào Thị L" dưới mục "Bên B" trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra;

+ Chữ ký, chữ viết đứng tên "Phạm Thị H1" dưới mục "Bên A" trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh không phải do cùng một người ký, viết ra;

+ Chữ ký đứng tên "Nguyễn Văn Q2" dưới mục "Chủ tịch" trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh do cùng một người ký ra.;

+ Hình dấu "U.B.N.D XÃ NGHĨA HẢI" và hình dấu "CHỦ TỊCH NGUYỄN VĂN QUÂN" trên trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh do cùng một con dấu đóng ra.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSNÐ-P3 ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố Đào Thị L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS và tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS.

H1 tại phiên toà đề nghị xin lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Viện kiểm sát tỉnh Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đào Thị L theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 341, Điều 47; Điều 55 ; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tuyên bố Đào Thị L phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức", Xử phạt bị cáo Đào Thị L từ 2 năm 6 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; từ 2 năm 6 tháng tù đến 03 năm tù về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" tổng hợp hình phạt cả hai tội bị cáo Đào Thị L phải chấp hành hình phạt chung là từ 5 năm đến 06 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng: tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 13 pro max đã thu giữ của Đào Thị L, trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà phạm Thị H3. án phí bị cáo phải nộp 200.000đ theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Thị L và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo, người làm chứng, Bản Kết luận giám định số 157/ 2024/KL-KTHS ngày 26/01/2024 và 764/2024/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N, Các bản hợp đồng uỷ quyền giả và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; xác định bị cáo Đào Thị L đã thực hiện các hành vi sau: Ngày 30/6/2023, do không được bà Phạm Thị H1 đồng ý cho mượn thửa đất tại xóm E N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định để thế chấp vay tiền, Đào Thị L đã có hành vi làm giả 02 bản Hợp đồng ủy quyền đề ngày 30/6/2023 về việc chuyển nhượng, đặt cọc thửa đất trên từ bà Phạm Thị H1 cho L bằng cách tự soạn thảo 02 bản Hợp đồng ủy quyền có sẵn Lời chứng thực của UBND xã N với nội dung giống nhau rồi nhờ người đi đường ký giả chữ ký của bà Phạm Thị H1 tại mục "Bên A" - bên ủy quyền trên cả 02 bản Hợp đồng ủy quyền sau đó mang đến UBND xã N để xin chứng thực. Do tin tưởng và chủ quan không kiểm tra lại nên anh Nguyễn Văn K - cán bộ tư pháp đã trình ông Nguyễn Văn Q2 - Chủ tịch UBND xã N ký chứng thực 02 bản Hợp đồng ủy quyền này cho L.

Ngày 30/6/2023, Đào Thị L đã có hành vi sử dụng 03 bản Hợp đồng ủy quyền giả đề ngày 30/6/2023 từ bà Phạm Thị H1 cho Nguyễn Xuân T có lời chứng thực của UBND xã N mà L đặt mua của người phụ nữ tên P để đưa cho T nhờ vay tiền hộ.

Sau đó, ngày 03/7/2023, Đào Thị L tiếp tục sử dụng 02 bản Hợp đồng ủy quyền từ bà Phạm Thị H1 cho Đào Thị L có lời chứng thực của UBND xã N do L trực tiếp làm giả đưa cho Nguyễn Xuân T để nhờ T vay tiền hộ.

Bị cáo Đào Thị L là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. bị cáo nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để sử dụng vào mục đích dùng tài sản của người khác chuyển nhượng hoặc làm tài sản đảm bảo để vay tiền, tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo đã thực hiện xâm phạm vào khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.

Bị cáo Đào Thị L đã thực hiện hai hành vi là làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức. Số lượng tài liệu làm giả là 02 tài liệu, hành vi trên đây của bị can Đào Thị L đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” - Tội phạm, hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Số lượng sử dụng tài liệu giả là hai lần 05 tài liệu, phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" phạm tội nhiều lần. Tội phạm, hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Đào Thị L phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra, bị cáo Đào Thị L đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS “Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bố đẻ và bác ruột bị cáo là ông Đào Đức V có thời gian tham gia kháng chiến cứu nước, ông V được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất, huy chương chiến sỹ giải phóng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: do đó căn cứ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng cải tạo bản thân mà tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, con nhỏ. Xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho bà Phạm Thị H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845. Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại iphone 13 promax thu giữ của Đào Thị L. Các bản Hợp đồng uỷ quyền giả thu giữ lưu hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí bị cáo Đào Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quan điểm truy tố và luận tội bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 135; 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Đào Thị L phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

Xử phạt bị cáo Đào Thị L 03 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; 03 năm tù về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" tổng hợp hình phạt cả hai tội bị cáo Đào Thị L phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.

2. Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho bà Phạm Thị H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG673845. Tịch thu sung ngân sách nhà nước một điện thoại iphone 13 promax thu giữ của Đào Thị L.

(Chi tiết cụ thể ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản thi hành án số 73/24 ngày 25-6-2024 giữa phòng PC01 – Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định).

3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Thị L và người có quyền lợi liên quan bà Phạm Thị H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Công an tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Biền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tội "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" và tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" và Tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Thị L - Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger