|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày: 16 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trường Thị Kim Tiến;
- Bà Lê Thị Xuân Đào;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa– Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên;
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Bị cáo: Trương Hoàng D (tên gọi khác: không có), sinh ngày 18 tháng 3 năm 1998, giới tính N. Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 79 đường số E ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Vĩnh G, sinh năm 1965 (sống) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965 (sống); Bản thân chưa có vợ con; Tiền sự: Tại Quyết định số 211/QĐ-TA ngày 05/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Hoàng D, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 01/10/2022. Tiền án: Không.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 479/HSST ngày 07/4/2004 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trương Hoàng D 04 năm tù về tội Hiếp dâm. Chấp hành xong án phí ngày 27/7/2004, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2006.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2007/HSST ngày 19/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trương Hoàng D 01 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phí ngày 25/5/2007, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2008.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2009/HSST ngày 14/5/2009 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trương Hoàng D 02 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Chấp hành xong án phí ngày 07/8/2009, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2010.
Tại Quyết định số 164/QĐ-TA ngày 12/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Hoàng D, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 29/01/2019.
Bị cáo Trương Hoàng D đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967. Địa chỉ: Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt);
Người làm chứng:
1.Ông Trần Thanh T1, sinh năm 2003. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt);
2.Ông Tống Đức C, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 30 ngày 11/01/2024, Trương Hoàng D đang đi bộ trên Đường T gần cống Bà B thuộc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thì gặp người đàn ông tên T2 (không xác định nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô Dream màu nâu không rõ biển số đến rủ D đi tìm tài sản của người dân chiếm đoạt đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, D đồng ý. T2 điều khiển xe mô tô chở D đi đến đoạn đường thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thì nhìn thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 59G1-970.41 của Nguyễn Hữu H dựng trên lề đường không người trông coi nên T2 và D thống nhất lấy trộm xe mô tô trên. T2 dừng xe cách vị trí xe mô tô biển số 59G1-970.41 khoảng 20m, tý đưa cho D 01 mũi đoản và 01 thân đoản bằng kim loại rồi ở lại trên xe cảnh giới. D cầm bộ đoản đi bộ lại vị trí dựng xe mô tô biển số 59G1-97041, lén lút dùng tay phải đưa mũi đoản vào ổ khóa công tắc xe mô tô biển số 5961-970.41 bẻ khóa khởi động máy nhưng không được. D rút mũi đoãn ra rồi tiếp tục đưa mũi đoản vào ổ khóa vặn bẻ khóa khởi động máy lần thứ hai thì bị người dân phát hiện bắt giữ D giao Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng, còn người đàn ông T2 điều khiển xe mô tô chạy thoát.
Vật chứng tạm giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh xám, biển số 59G1-970.41, số khung: 0610FY136900, số máy: G3D4E149502.
- - 01 mũi đoản bằng kim loại dài 8cm, có 01 đầu dẹp.
- - 01 thân đoản bằng kim loại dài 8,5 cm.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh xám, biển số 59G1-970.41, số khung: 0610FY136900, số máy: G3D4E149502 trị giá 16.000.000 đồng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị can Trương Hoàng D thành khẩn khai báo hành vi phạm tội.
Xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh xám, biển số 59G1-970.41, số khung: 0610FY136900, số máy: G3D4E149502 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hữu H. Năm 2013, Nguyễn Hữu H mua xe nhưng nhờ Nguyễn Hữu V đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho H theo biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 08/4/2024.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo quy định gồm:
- - 01 mũi đoản bằng kim loại dài 8cm, có 01 đầu dẹp.
- - 01 thân đoản bằng kim loại dài 8,5 cm.
Phần dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSĐH ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Hoàng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 15, Điều 17, Điều 27 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trương Hoàng D mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Tang vật: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 mũi đoản bằng kim loại dài 8cm, có 01 đầu dẹp; 01 thân đoản bằng kim loại dài 8,5 cm.
Về trách nhiệm dân sự: ông H không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Xuất phát từ việc bị cáo Trương Hoàng D không có việc làm nhưng muốn có tiền để sử dụng tiêu xài cá nhân và chơi geam và hút Ma Túy không cần phải lao động nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, tại Đường T thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An Trương Hoàng D và người đàn ông tên T2 (không xác định nhân thân, lai lịch) có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh xám, biển số 59G1-970.41, số khung: 0610FY136900, số máy: G3D4E149502 trị giá 16.000.000 đồng của ông Nguyễn Hữu H thì bị người dân phát hiện bắt giữ. Riêng người đàn ông tên T2 tẩu thoát. Tổng số tài sản bị cáo D chiếm đoạt chưa thành trị giá là 16.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo D đã vi phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai nhận của bị cáo Trương Hoàng D trước Tòa phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Hữu H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án như Nguyễn Thị T, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/01/2024, sơ đồ hiện trường, phù hợp biên bản thu giữ vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Trương Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo D được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Hoàng D với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này của D đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ông Nguyễn Hữu H được pháp luật Hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo D không những xâm hại trực tiếp đến tài sản hợp pháp của ông H mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý theo pháp luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng cần thiết cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Về tình tiết tăng nặng bị cáo: không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi bị cáo phạm tội chưa đạt cần áp dụng Điều 15 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ông H không có yêu cầu gì về việc buộc bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 mũi đoản bằng kim loại dài 8cm, có 01 đầu dẹp; 01 thân đoản bằng kim loại dài 8,5 cm (tang vật do cơ quan thi hành án đang quản lý theo biên bản ngày 26/4/2024).
[8] Về án phí: Bị cáo Trương Hoàng D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
[9]. Đối với người tên T2 có dấu hiệu đồng phạm với Trương Hoàng D về tội trộm cắp tài sản nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra tách hành vi của T2 theo Quyết định tách vụ án số 06 ngày 08/4/2024 để tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 15, Điều 17, Điều 27 Bộ luật hình sự và khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Hoàng D 01 (Một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 11/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/5/2024 để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 mũi đoản bằng kim loại dài 8cm, có 01 đầu dẹp; 01 thân đoản bằng kim loại dài 8,5 cm (tang vật do cơ quan thi hành án đang quản lý theo biên bản ngày 26/4/2024).
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo Trương Hoàng D phải nộp 200.000 đồng án phí HSST sung vào Ngân sách Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án những người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm, những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ .
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thị Mộng Thúy |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Hoàng D - Trộm cắp tài sản
