|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 62/2024/HSST Ngày: 15/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nông Văn Vụ
Ông Nguyễn Văn Hòa
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Tùy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 184/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Thị Hải Y; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 06 tháng 02 năm 1983 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Lương Thanh B (đã chết); Con bà: Dương Thị C - sinh năm 1939; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Chồng: Trịnh Thanh T, sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: 02 con, con thứ nhất sinh năm 2010, con thứ hai sinh năm 2014; Anh chị em ruột: bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/5/2023 đến ngày 02/6/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
2. Họ và tên: Dương Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1981 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Văn C2 - sinh năm 1956 (đã chết); Con bà: Phương Thị M - sinh năm 1956; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: Xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Chồng: Lê Đàm T1 - sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Lái xe; Trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: có 01 con sinh năm 2002; Anh em ruột: bị cáo có ba chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/5/2023 đến ngày 02/6/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
3. Họ và tên: Dương Quang S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1985 tại: huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở hiện nay: Tổ H, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Thành L - sinh năm 1963; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; Con bà: Dương Thị N - sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; Cùng trú tại: Tổ A, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Vợ: Nguyễn Thị N1 - sinh năm 1990; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ A, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Con: có hai con, con thứ nhất sinh năm 2017, con thứ hai sinh năm 2018; Anh em ruột: Bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 25/5/2023 đến ngày 13/6/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho đến nay; có mặt.
4. Họ và tên: Ngô Thị B1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 13 tháng 7 năm 1970 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Phố C, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Ngô Tĩnh (đã chết); Con bà: Triệu Thị S1 (đã chết); Chồng, con: Không có; Anh em ruột: Gia đình có sáu anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: không có.
Nhân thân: Ngày 19/6/2009 bị Công an tỉnh C xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với hành vi mua số đề.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 10/7/2023 cho đến nay; có mặt.
5. Họ và tên: Lương Thị B2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 29 tháng 9 năm 1953 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ văn hóa: 10/10; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Lương Lê M1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị M2 (đã chết); Chồng: Nguyễn La X (đã chết); Con: có hai con, con thứ nhất sinh năm 1977, con thứ hai sinh năm 1982; Anh em ruột: Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: không có;
Nhân thân: Ngày 27/01/2022 bị Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với hành vi bán số lô, số đề.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 10/7/2023 cho đến nay; có mặt.
6. Họ và tên: Trần Thị H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1956 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Trần Đức M3 (đã chết); Con bà: Lê Thị L1 (đã chết); Chồng: Trần Trọng Đ (đã chết); Con: có 02 con, một con sinh năm 1983, một con sinh năm 1978; Anh em ruột: gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 10/7/2023 cho đến nay; có mặt.
7. Họ và tên: Vương Thị O; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 17 tháng 9 năm 1980 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Chức vụ chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Vương Quốc C3 (đã chết); Con bà: Hoàng Thị P - sinh năm 1955; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Chồng: Lê Văn C4 - sinh năm 1980; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Phố C, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: có một con sinh năm 2001; Anh em ruột: có năm anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 10/7/2023 cho đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị B1: ông Bế Văn B3 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C; có mặt.
Người làm chứng:
- Bế Thị N2 - sinh năm 1975; trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Triệu Thị Ngọc D - sinh năm 1979; trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Phạm Đức H2 - sinh năm 1981; trú tại: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Trần Thị B4; sinh năm 1973; trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Trần Thị H3 - sinh năm 1969; trú tại: Phố C, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/5/2023 Đ1 Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang 02 (hai) vụ mua bán số lô, số đề trái phép tại xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào hồi 18 giờ 10 phút Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng phát hiện đối tượng Lương Thị Hải Y (sinh năm 1983; HKTT: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) có biểu hiện nghi vấn về hành vi đánh bạc (dưới hình thức mua bán số lô, số đề). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng sau: 01 (một) bảng ghi số lô, số đề xác định ngày 24/5/2023; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung galaxy A50 màu xanh, số imei1: 356646101624492; số imei2: 356647101624490 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím bấm, số Seri 1: 356956090703961; số seri 2: 356956093703968 đã qua sử dụng; Số tiền 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).
Vụ thứ hai: Vào hồi 18 giờ 15 phút Đ1 Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng phát hiện đối tượng Dương Thị H (sinh năm 1981; HKTT: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) có hành vi mua, bán số lô, số đề trái phép. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng sau: 02 (hai) cáp có ghi các số lô, số đề; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng trắng, số imei1: 863654039518212; số imei2: 863654039518204 đã qua sử dụng.
Hồi 19 giờ 55 phút cùng ngày 24/5/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành kiểm tra nội dung trong điện thoại di động S2 A50 thu giữ của Y, phát hiện trong ứng dụng zalo của Y có nhiều tin nhắn trao đổi mua bán số lô, số đề. Đồng thời hồi 20 giờ cùng ngày, tiến hành kiểm tra nội dung trong điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của Y, phát hiện trong ứng dụng tin nhắn có nội dung liên quan đến hành vi mua bán số lô, số đề.
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 24/5/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành kiểm tra nội dung trong điện thoại di động Oppo A39 thu giữ của H, phát hiện trong ứng dụng zalo của H có nhiều tin nhắn có nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với nhiều đối tượng.
Quá trình điều tra xác định: Hằng ngày Lương Thị Hải Y bán đồ chơi và đồ ăn cho trẻ ở cổng trường mầm non xã H, thành phố C. Quá trình bán hàng, khi khách có nhu cầu ghi số lô, số đề muốn chơi thì Y sẽ nhận ghi cho khách bằng các hình thức: Khách trực tiếp đến gặp Y ở cổng trường mầm non để ghi số lô số đề, Y sẽ viết các số lô, số đề khách ghi kèm theo số tiền chơi vào một tờ giấy do Y chuẩn bị (gọi là cáp đề) rồi đưa cho khách. Có trường hợp khách sẽ ghi các số lô, số đề muốn chơi vào tờ giấy trắng do khách tự chuẩn bị rồi đưa cho Y, một số khách không cần thì Y không viết, đồng thời Y cũng sẽ sao chép các số đề khách chơi vào một tờ giấy khác (gọi là bảng đề) rồi sử dụng điện thoại di động chụp ảnh bảng đề gửi cho chủ đề thông qua tin nhắn zalo. Ngoài ra Lương Thị Hải Y còn nhận bán số lô, số đề cho khách thông qua tin nhắn điện thoại qua 02 chiếc điện thoại di động mà cơ quan điều tra đã thu giữ của Y: Qua chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím bấm, bên trong điện thoại lắp 01 sim số 0949.972.800. Khi khách có nhu cầu mua số lô số đề nào thì sẽ gửi tin nhắn có các số lô số đề kèm theo số tiền chơi và gửi đến số điện thoại của Y. Sau khi nhận được tin nhắn có số lô số đề của khách chơi thì Y không trả lời xác nhận (mặc định là Y nhận cho khách), vì trước khi nhận bán số lô, số đề cho khách thì Y đã trao đổi với khách về vấn đề trên; Qua chiếc điện di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A50 màu xanh Y đăng nhập tài khoản mạng xã hội Zalo tên "H5" được đăng ký bởi số thuê bao 0326.964.248. Cách nhận số lô, số đề của khách qua tin nhắn của mạng xã hội zalo cũng tương tự như trên, khách sẽ soạn các số lô, số đề muốn ghi kèm theo số tiền chơi rồi gửi vào tài khoản zalo tên "Hoa Hướng D1", nếu Y đồng ý nhận số lô, đề của khách thì sẽ trả lời xác nhận "OK", nếu Y không trả lời xác nhận tức là Y không đồng ý ghi số lô số đề cho khách. Sau khi nhận số lô, số đề từ khách chơi Y tổng hợp lại thành một bảng số lô, số đề (bảng đề) đến khoảng 18 giờ hằng ngày thì nộp cho người phụ nữ tên N3, khoảng 60 tuổi nhà ở thành phố C (không biết rõ địa chỉ) để hưởng lợi tiền phần trăm. Ngày 23/5/2023 và ngày 24/5/2023 người phụ nữ tên N3 không đến gặp Y lấy bảng đề nên Y đã gửi bảng đề cho Dương Thị H qua ứng dụng Zalo để nhờ H chuyển giúp bảng đề cho chủ đề khác, H chỉ chuyển giúp nên không được hưởng lợi từ việc chuyển hộ bảng đề của Y.
Hình thức chơi số lô, số đề và cách tính tiền thắng thua như sau: Đối với số đề người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số đề mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng theo tỉ lệ gấp 70 lần số tiền đã mua. Đối với số lô: người chơi sẽ chọn các số từ 00 đến 99, nếu số lô người chơi mua trùng với hai số cuối của một trong 27 Kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày thì được coi là trúng thưởng và được trả thưởng 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) trên 01 điểm lô, nếu không trúng sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô, số đề. Đối với số lô xiên: Khách sẽ mua đồng thời bộ hai số (xiên 2), bộ B6 số (xiên 3) hoặc bộ bốn số (xiên 4), ngẫu nhiên các số từ 00 đến 99, nếu trong 27 giải Kết quả sổ xố kiến thiết Miền B cùng ngày có đồng thời các bộ số khách đã mua thì sẽ trúng thưởng gấp 10 lần đối với xiên 2, gấp 40 lần đối với xiên 3, gấp 100 lần đối với xiên 4; nếu không trúng thì sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra; Đối với ba càng khách sẽ tùy chọn các con số ngẫu nhiên từ 000 đến 999 kèm theo số tiền chơi, căn cứ trúng thưởng là đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền B tại ba số cuối của giải đặc biệt mở thưởng hàng ngày, nếu trúng thưởng, người chơi sẽ được số tiền gấp 350 lần số tiền chơi ban đầu, thua sẽ mất số tiền ban đầu bỏ ra để chơi.
Về số tiền hưởng lợi được cụ thể như sau: Đối với số đề Y trích lại cho khách chơi 20% (Hai mươi phần trăm) tổng số tiền chơi, khi Y gửi số đề cho chủ đề thì được trích lại 27% (Hai mươi bảy phần trăm) và Y được hưởng lợi 7% (bảy phần trăm) từ ghi số đề; Đối với số lô Y nhận của khách là 23.000đ/1 điểm lô (hai mươi ba nghìn đồng trên một điểm lô), Y gửi số lô cho chủ đề là 22.000đ/1 điêm lô (hai mươi hai nghìn đồng trên một điểm lô), Y được hưởng lợi 1.000đ/ 1 điểm lô (một nghìn đồng trên một điểm lô).
Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định được Lương Thị Hải Y bán số lô, số đề trái phép cho khách chơi rồi tổng hợp lại chuyển bảng để cho chủ để để hưởng lợi số tiền phần trăm trong khoảng thời gian từ ngày 25/01/2022 đến ngày 24/5/2023, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của Lương Thị Hải Y là 40.604.000đ (bốn mươi triệu sáu trăm linh bốn nghìn đồng), số tiền trúng thưởng là 16.600.000đ (mười sáu triệu sáu trăm nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc là 57.204.000đ (năm mươi bảy triệu hai trăm linh bốn nghìn đồng). Lương Thị Hải Y được hưởng lợi bất chính từ hành vi mua bán số lô, đề với tổng số tiền là 2.778.230 (hai triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm ba mươi đồng). Xác định trong tất cả các ngày bán số lô, số đề của Y không có ngày nào có số lượng người chơi từ 10 người trở lên và số tiền đánh bạc từ 20.000.000 đồng trở lên, cụ thể là:
Ngày 25/01/2022 bán số đề cho 01 người chơi có số điện thoại 0989.224.xxx được lưu tên trong danh bạ là "Anh Thanh M4" với số tiền 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng). Y được hưởng lợi 42.000đ (Bốn mươi hai nghìn đồng).
Ngày 26/01/2022 bán số đề cho 01 người chơi có số điện thoại 0989.224.xxx được lưu tên trong danh bạ là "Anh Thanh M4", với số tiền 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng). Y được hưởng lợi 42.000₫ (Bốn mươi hai nghìn đồng).
Ngày 10/5/2023 bán số đề cho 01 người chơi có số điện thoại 0945.407.xxx được lưu tên trong danh bạ là "Giặt Chăn", với số tiền 90.000đ (Chín mươi nghìn đồng). Y được hưởng lợi 6.300đ (Sáu nghìn ba trăm đồng).
Ngày 16/5/2023 bán số lô cho 01 người chơi (có tên tài khoản zalo là B5), với số tiền 690.000₫ (Sáu trăm chín mươi nghìn đồng) và số tiền trúng thưởng là 800.000đ, do vậy tổng số tiền đánh bạc là 1.490.000đ (Một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Y được hưởng lợi 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng).
Ngày 17/5/2023 bán số lô, số đề cho 01 người chơi (có tên tài khoản zalo là B5), với số tiền 3.210.000đ (Ba triệu hai trăm mười nghìn đồng) và được trúng thưởng là 2.100.000đ, do vậy tổng số tiền đánh bạc là 5.310.000đ (Năm triệu ba trăm mười nghìn đồng). Y được hưởng lợi 212.500đ (Hai trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
Ngày 18/5/2023 bán số lô, số đề cho 02 người chơi có có số điện thoại 0945.407.xxx được lưu tên trong danh bạ là "Giặt Chăn" và tài khoản zalo tên là B5, với số tiền 4.970.000đ (Bốn triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng). Y được hưởng lợi 335.700đ (Ba trăm ba mươi năm nghìn bảy trăm đồng).
Ngày 19/5/2023 bán số lô, số đề cho 01 người chơi (có tên tài khoản zalo là B5) với số tiền 4.040.000đ (Bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) và được trúng thưởng là 4.200.000đ, do vậy tổng số tiền đánh bạc là 8.240.000đ (Tám triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng). Y được hưởng lợi 282.800đ (hai trăm tám hai nghìn tám trăm đồng).
Ngày 20/5/2023 bán số lô, số đề cho 01 người chơi (có tên tài khoản zalo là B5), với số tiền 5.715.000đ (Năm triệu bảy trăm mười nghìn đồng) và được trúng thưởng là 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng), do vậy tổng số tiền đánh bạc là 15.215.000đ (Mười lăm triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng). Y được hưởng lợi 378.700đ (Ba trăm bảy mươi tám nghìn bảy trăm đồng).
Ngày 21/5/2023 bán số đề cho 01 người chơi (có tên tài khoản zalo là B5), với số tiền 3.090.000đ (Ba triệu không trăm chín mươi nghìn đồng). Số tiền hưởng lợi là 216.300đ (Hai trăm mười sáu nghìn ba trăm đồng).
Ngày 22/5/2023 bán số lô, số đề cho 01 người chơi (có tên tài khoản zalo là B5), với số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Y được hưởng lợi 175.000đ (Một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Ngày 23/5/2023 bán số lô, số đề cho 02 người chơi gồm có người có tên tài khoản zalo là "Bibibobo", số điện thoại 0854.507.xxx lưu tên danh bạ là "Chi Băng" và những người qua đường không xác định được với tổng số tiền đánh bạc là 11.220.000đ (mười một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng). Y được hưởng lợi 785.400đ (bảy trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm đồng).
Ngày 24/5/2023 bán số lô, số đề cho 02 người chơi gồm người có số điện thoại 0854.507.xxx lưu tên danh bạ là "Chi Băng", tài khoản zalo tên là "Bibibobo" và những người qua đường không xác định được, với tổng số tiền 3.879.000đ (ba triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn đồng). Y được hưởng lợi 271.530đ (Hai trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm ba mươi đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đủ căn cứ xác định ngoài việc bán số lô, số đề sau đó chuyển cho chủ để hưởng lợi tiền phần trăm theo thỏa thuận thì Lương Thị Hải Y còn tự giữ lại số lô số đề để tính toán tiền thắng thua đối với người chơi Dương Quang S (sinh năm 1985; Nơi ĐKTT: Tổ dân phố số A, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Tạm trú: Tổ H, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). S sử dụng tài khoản Zalo tên "Robin" được đăng ký bởi số thuê bao 0964.758.622 gửi tin nhắn mua số lô, đề với Y trong 03 (ba) ngày và đều có tổng số tiền đánh bạc trong một ngày trên 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), cụ thể là:
Ngày 22/5/2023, S mua số lô hết số tiền 41.040.000đ (bốn mươi mốt triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) và được trúng thưởng số tiền 112.000.000đ (một trăm mười hai triệu đồng), do vậy tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 153.040.000đ (một trăm năm mươi ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Ngày 23/5/2023, S mua số lô, số đề hết số tiền 279.240.000đ (hai trăm bảy mươi chín triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) và được trúng thưởng số tiền 308.083.333₫ (ba trăm linh tám triệu không trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), do vậy tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 587.323.333đ (năm trăm tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Ngày 24/5/2023, S mua số lô, số đề hết số tiền 302.340.000đ (ba trăm linh hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tổng số tiền Dương Quang S sử dụng để đánh bạc là 1.042.703.333 (một tỷ không trăm bốn mươi hai triệu bảy trăm linh ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó ngày đánh bạc cao nhất là ngày 23/5/2023 với số tiền 587.323.333đ (năm trăm tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), ngày đánh bạc thấp nhất là ngày 22/5/2023 với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 153.040.000đ (một trăm năm mươi ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Hành vi của Lương Thị Hải Y trong việc bán số lô, số đề cho những người chơi để hưởng lợi tiền phần trăm không có ngày nào đủ số tiền, số lượng người cấu thành tội Tổ chức đánh bạc nhưng có số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự và việc Y tự tính toán tiền thắng thua với người chơi Dương Quang S xác định đó là hành vi đánh bạc. Vì vậy, hành vi của Lương Thị Hải Y cấu thành tội Đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 1.099.907.333đ (một tỷ không trăm chín mươi chín triệu chín trăm linh bảy nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó ngày đánh bạc cao nhất là ngày 23/5/2023 với số tiền 587.323.333đ (năm trăm tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Y được hưởng lợi bất chính số tiền là 2.778.230đ (hai triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm ba mươi đồng).
Tiến hành điều tra đối với Dương Thị H xác định hằng ngày H nhận số lô, số đề với khách bằng hai cách là nhận trực tiếp qua "cáp đề" và nhận thông qua tin nhắn ứng dụng mạng xã hội Zalo tên "Dung N4". Sau đó tổng hợp lại thành bảng đề rồi gửi cho người phụ nữ tên "T2" thông qua mạng xã hội Z được H đặt tên trong điện thoại là "Cô T2 Hà Nội" để hưởng tiền phần trăm hoa hồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C xác định được trong khoảng thời gian từ 21/4/2023 đến ngày 24/5/2023 Dương Thị H nhận số lô số đề trái phép của những thư ký (chuyển số lô, số đề cho H với mục đích hưởng lợi tiền phần trăm) và những người chơi trực tiếp với H có số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự đó là Ngô Thị B1 (sinh năm 1970; Nơi thường trú: Phố C, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), Lương Thị B2 (sinh năm 1953; Nơi thường trú: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng), Lương Thị Hải Y (sinh năm 1983; Nơi thường trú: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Người mua số lô, số đề trực tiếp với H là Trần Thị H1 (sinh năm 1956; Nơi thường trú: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) và Vương Thị O (sinh năm 1980; Nơi thường trú: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) là người nhận số lô, số đề với H.
Hình thức chơi số lô số đề của Dương Thị H cũng giống như Lương Thị Hải Y. Cách thức thỏa thuận tỷ lệ tiền đánh số lô số đề và tiền hưởng lợi phần trăm của H như sau: Đối với số đề H trích lại cho khách chơi 25% (hai mươi lăm phần trăm) tổng số tiền chơi số đề. H gửi số đề cho chủ đề thì được chủ đề trích cho 27% (hai mươi bảy phần trăm), H được hưởng lợi 2% (Hai phần trăm) tổng số tiền chơi số đề; Đối với tất cả số lô, lô xiên và ba càng H nhận từ những người chơi, các thư ký, H chuyển hết cho chủ đề và không có hưởng lợi. Đối với Ngô Thị B1: Số đề khách chơi được B1 trích lại cho khách là 20% (hai mươi phần trăm) tổng số tiền chơi số đề, khi B1 chuyển cho H được H trích lại 25% (hai mươi năm phần trăm), B1 được hưởng lợi 5% (năm phần trăm) tổng số tiền chơi từ việc ghi số đề; Với số lô B1 nhận của khách là 23.000đ/01 điểm lô (hai mươi ba nghìn trên một điểm lô), B1 gửi số lô cho H là 22.000đ/01 điểm lô (hai mươi hai nghìn đồng trên một điểm lô), B1 được hưởng lợi 1.000đ/01 điểm lô (một nghìn đồng trên một điểm lô). Đối với Lương Thị B2: Với số đề khách chơi B2 trích lại cho khách chơi là 20% (Hai mươi phần trăm) tổng số tiền chơi số đề, khi chuyển cho H, được H trích lại 27% (Hai mươi bảy phần trăm), B2 được hưởng lợi 7% (bảy phần trăm) tổng số tiền chơi từ việc ghi số đề; Với số lô Bông nhận của khách là 23.000đ/01 điểm lô (hai mươi ba nghìn trên một điểm lô), B2 gửi số lô cho H là 22.000đ/01 điểm lô (hai mươi hai nghìn đồng trên một điểm lô), B2 được hưởng lợi 1.000đ/01 điểm lô (một nghìn đồng trên một điểm lô). Đối với Vương Thị O nhận 75% trên tổng số tiền số đề của H chuyển đến. Đối với những thư ký Lương Thị B2, Lương Thị Hải Y và người chơi trực tiếp là Trần Thị H1 khi chơi và chuyển bảng số lô, số đề cho Dương Thị H để nhờ H chuyển giúp cho chủ đề thì H chỉ chuyển giúp mà không hưởng lợi gì từ số tiền sử dụng để đánh bạc của những người đó.
Trong khoảng thời gian từ 21/4/2023 đến ngày 24/5/2023, H đã nhận và chuyển số lô, số đề trái pháp luật với tổng số tiền đánh bạc là 138.184.000đ (một trăm ba mươi tám triệu một trăm tám mươi tư nghìn đồng), trong đó ngày đánh bạc ngày cao nhất là ngày 24/5/2023 với số tiền sử dụng đánh bạc là 83.512.000đ (tám mươi ba triệu năm trăm mười hai nghìn đồng). Tổng số tiền thu lợi bất chính của Dương Thị H là 1.202.120đ (một triệu hai trăm linh hai nghìn một trăm hai mươi đồng). Trong các ngày nhận và chuyển các số lô, số đề xác định được các ngày có số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể là:
Ngày 21/5/2023 bán số lô đề cho 01 người (tài khoản zalo là "T") được số tiền là 10.824.000đ (mười triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn đồng), số tiền trúng thưởng là 3.850.000đ (ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng), do vậy tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 14.674.000đ (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).
Ngày 22/5/2023 bán số lô đề cho 01 người (tài khoản zalo là "T") được số tiền là 6.689.000đ (sáu triệu sáu trăm tám mươi chín nghìn đồng), số tiền trúng thưởng là 7.280.000đ (bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng), do vậy tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 13.969.000đ (mười ba triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Ngày 23/5/2023 bán số lô đề cho 03 người (các tài khoản zalo là "Trần H1", "Huong tien", "Hoa Hướng D2") được số tiền là 21.493.000đ (hai mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng) số tiền trúng thưởng là 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng), do vậy tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 22.193.000đ (hai mươi hai triệu một trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Ngày 24/5/2023 bán số lô đề cho 06 người (các tài khoản zalo là "Trần H1", "Ngocbich Bich", "Nguyễn P1", "Huong tien", "Mai Hoa Hướng D2" được số tiền là 83.512.000đ (tám mươi ba triệu năm trăm mười hai nghìn đồng).
Đối với Ngô Thị B1 sau khi tổng hợp số lô số đề của những người chơi đã sử dụng tài khoản Zalo tên là “Ngocbich Bich” để gửi số lô, số đề cho H. Xác định ngày 24/5/2023, B1 bán số lô, số đề trái phép với tổng số tiền là 62.695.000₫ (sáu mươi hai triệu sáu trăm chín mươi năm nghìn đồng), B1 hưởng lợi bất chính số tiền 3.080.000đ (ba triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).
Đối với Lương Thị B2 sau khi tổng hợp số lô số đề của những người chơi đã sử dụng tài khoản Zalo tên là “Nguyễn P1” để chuyển số lô, số đề cho H. Xác định ngày 24/5/2023, B2 bán số lô số đề với số tiền là 4.486.000đ (bốn triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng) và bản thân tự chơi số đề với số tiền là 2.725.000đ (hai triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc là 7.211.000₫ (bảy triệu hai trăm mười một nghìn đồng). Hưởng lợi số tiền là 288.400 đồng (hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm đồng).
Đối với Lương Thị Hải Y trong hai ngày 23, 24/5/2023 chuyển số lô, số đề cho H như đã xác định ở trên.
Đối với Trần Thị H1 là người mua số lô, số đề trực tiếp với H. Những ngày đánh bạc H1 sử dụng tài khoản Zalo có tên là "Trần H1" nhắn tin mua số đề với tài khoản Zalo tên là "Dung N4" của H. Xác định trong khoảng thời gian từ ngày 21/5/2023 đến ngày 24/5/2023, H1 mua số lô, số đề trái phép với số tiền 36.591.000đ (ba mươi sáu triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn đồng), số tiền trúng thưởng là 2.414.780đ (hai triệu bốn trăm mười bốn nghìn bảy trăm tám mươi đồng), tổng số tiền đánh bạc là 48.421.000đ (Bốn mươi tám triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng), trong đó ngày cao nhất là ngày 21/5/2023 với số tiền đánh bạc và trúng thưởng là 14.674.000đ (Mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn đồng), ngày thấp nhất là ngày 22/5/2023 với số tiền đánh bạc và trúng thưởng là 7.280.000đ (bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng), tất cả các ngày đánh bạc đều có số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:
Ngày 21/5/2023, H1 mua số lô, số đề trái phép với số tiền là 10.824.000đ (mười triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn đồng), trúng thưởng 3.850.000đ (ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc là 14.674.000đ (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).
Ngày 22/5/2023, H1 mua số lô, số đề trái phép với số tiền là 6.694.000đ (sáu triệu sáu trăm chín mươi bốn nghìn đồng), trúng thưởng 7.280.000đ (bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng), tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 13.974.000đ (mười ba triệu chín trăm bảy mươi tư nghìn đồng).
Ngày 23/5/2023, H1 mua số lô, số đề trái phép với số tiền là 11.539.000đ (mười một triệu năm trăm ba mươi chín nghìn đồng), trúng thưởng 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng), tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 12.239.000đ (mười hai triệu hai trăm ba mươi chín nghìn đồng).
Ngày 24/5/2023, H1 mua số lô, số đề trái phép với số tiền là 7.534.000đ (bảy triệu năm trăm ba mươi tư nghìn đồng).
Ngoài ra quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C còn xác định được vào ngày 24/5/2023 sau khi Dương Thị H chuyển những số lô, số đề nhưng chủ đề không nhận hết nên H đã sử dụng tài khoản zalo của mình chuyển một phần số lô, số đề cho Vương Thị O sử dụng tài khoản Zalo tên là "Want". Xác định số tiền đánh bạc trong ngày 24/5/2023 có tổng số tiền là 5.150.000đ (năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của các bị cáo Dương Thị H, Ngô Thị B1 đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự; Hành vi của các bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Quang S, Lương Thị B2, Trần Thị H1, Vương Thị O đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 09/CT-VKSTP ngày 29/12/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo:
- Dương Thị H, Ngô Thị B1 về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
- Lương Thị Hải Y, Dương Quang S về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
- Lương Thị B2, Trần Thị H1, Vương Thị O về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Đối với các điện thoại bị thu giữ: Các bị cáo thừa nhận đã dùng các chiếc điện thoại bị thu giữ để đánh bạc và tổ chức đánh bạc, trong đó chiếc điện thoại Nokia thu giữ của bị cáo Y đã cũ hỏng.
Về số tiền thu lợi bất chính:
- Bị cáo Lương Thị Hải Y thừa nhận được thu lợi số tiền là: 2.778.230 đồng, trong đó có 1.030.000 đồng bị thu giữ bị bị bắt quả tang.
- Bị cáo Dương Thị H thừa nhận được thu lợi số tiền là: 1.202.120 đồng và được bị cáo H1 thanh toán số tiền đánh bạc là 6.974.000 đồng. Tổng cộng tiền thu lợi là 8.176.120 đồng.
- Bị cáo Ngô Thị B1 thừa nhận được thu lợi số tiền là: 3.080.000 đồng và số tiền được người chơi thanh toán thêm là 500.000 đồng. Tổng cộng tiền thu lợi là 3.580.000 đồng.
- Bị cáo Lương Thị B2 thừa nhận được thu lợi số tiền là: 288.400 đồng.
- Bị cáo Trần Thị H1 thừa nhận được bị cáo H thanh toán tiền thắng bạc là: 586.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lương Thị Hải Y.
Áp dụng: Điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Quang S.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Thị H.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Ngô Thị Bích .
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, o, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lương Thị B2.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Thị H1.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vương Thị O.
Tuyên bố: Các bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Quang S, Lương Thị B2, Trần Thị H1, Vương Thị O phạm tội “Đánh bạc”.
Tuyên bố: Các bị cáo Dương Thị H, Ngô Thị B1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Đề nghị xử phạt các bị cáo như sau:
Về hình phạt chính: phạt tiền bị cáo Dương Thị H từ 80 đến 90 triệu đồng; Phạt tiền bị cáo Ngô Thị B1 từ 50 đến 60 triệu đồng; Phạt tiền bị cáo Lương Thị B2 từ 20 đến 25 triệu đồng; Phạt tiền bị cáo Vương Thị O từ 20 đến 25 triệu đồng; Phạt tiền bị cáo Trần Thị H1 từ 30 đến 40 triệu đồng.
Xử phạt bị cáo Lương Thị Hải Y từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, xử phạt bị cáo Dương Quang S từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm 03 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Quang S từ 10 đến 20 triệu đồng.
Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA (loại bàn phím) màu đen.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A50 màu xanh;
- + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy M51, màu đen;
- + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng trắng;
- + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7, màu trắng hồng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Tiền Việt Nam: 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).
Về số tiền thu lợi bất chính: Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước toàn bộ số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước. Các bị cáo B1, B2, H1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, các bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến tranh luận khác với đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định:
Từ ngày 25/01/2022 đến ngày 24/5/2023, Lương Thị Hải Y có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền đánh bạc là 1.099.907.333 (một tỷ không trăm chín mươi chín triệu chín trăm linh bảy nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó ngày đánh bạc cao nhất là ngày 23/5/2023 với số tiền 587.323.333đ (năm trăm tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Y được hưởng lợi bất chính số tiền là 2.778.230 (hai triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm ba mươi đồng). Trong các ngày Y đánh bạc có 06 ngày số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ ngày 21/4/2023 đến ngày 24/5/2023, Dương Thị H có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền là 138.184.000đ (Một trăm ba mươi tám triệu một trăm tám mươi bốn nghìn đồng), trong đó ngày đánh bạc có số tiền cao nhất là ngày 24/5/2023 với số tiền 83.512.000đ (tám mươi ba triệu năm trăm mười hai nghìn đồng), số tiền H thu lợi bất chính là 1.202.120đ (một triệu hai trăm linh hai nghìn một trăm hai mươi đồng). Trong các ngày H tổ chức đánh bạc có 04 ngày số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, Dương Thị H đã được bị cáo Trần Thị H1 thanh toán số tiền đánh bạc ngày 21/5/2023 là 6.974.000đ (sáu triệu chín trăm bảy mươi tư nghìn đồng).
Từ ngày 22/5/2023 đến ngày 24/5/2023, Dương Quang S có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền là 1.042.803.333 (một tỷ không trăm bốn mươi hai triệu tám trăm linh ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó ngày đánh bạc cao nhất là ngày 23/5/2023 với số tiền 587.323.333₫ (năm trăm tám mươi bảy triệu ba trăm hai mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Trong đó cả 03 ngày đều có số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngày 24/5/2023, Ngô Thị B1 có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 62.695.000₫ (sáu mươi hai triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng). B1 thu lợi bất chính số tiền 3.080.000₫ (Ba triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Ngoài ra, bị cáo B1 được khách thanh toán thêm cho số tiền là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
Ngày 24/5/2023, Lương Thị B2 có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép với số tiền là 7.211.000đ (bảy triệu hai trăm mười một nghìn đồng). B2 thu lợi bất chính số tiền 288.400đ (hai trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm đồng).
Từ ngày 21/05/2023 đến ngày 24/5/2023, Trần Thị H1 có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi số lô, số đề với số tiền đánh bạc là 48.421.000đ (bốn mươi tám triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng), ngày đánh bạc cao nhất là ngày 21/5/2023 với số tiền đánh bạc là 14.674.000đ (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi tư nghìn đồng). Trong đó tất cả các ngày đều có số tiền đánh bạc đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo H1 đã thanh toán cho bị cáo H số tiền đánh bạc ngày 21/5/2023 là 6.974.000đ (sáu triệu chín trăm bảy mươi tư nghìn đồng) và đã được bị cáo H thanh toán tiền đánh bạc ngày 22/5/2023 là 586.000đ (năm trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Ngày 24/5/2023, Vương Thị O có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái phép với số tiền là 5.150.000đ (năm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về trật tự công cộng, an toàn xã hội. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của các bị cáo Dương Thị H, Ngô Thị B1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự, hành vi của các bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Quang S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, hành vi của các bị cáo Lương Thị B2, Trần Thị H1, Vương Thị O đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Thị H, Dương Quang S, Trần Thị H1, Vương Thị O đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo Ngô Thị B1, Lương Thị B2 có 01 tiền sự nhưng đã được xóa án tích. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, các bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Vương Thị O phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Ngô Thị B1 là người khuyết tật đặc biệt nặng (tỷ lệ mất sức lao động là 81%) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Lương Thị B2 được Bộ trưởng Bộ Y1 tặng huy chương vì sức khỏe nhân dân và có chồng là Nguyễn La X được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3, ngoài ra đến thời điểm hiện tại bị cáo đã đủ 70 tuổi nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, v khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Lương Thị Hải Y có mẹ đẻ là Dương Thị C được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng nhì, bị cáo Dương Thị H có bố đẻ là Dương Văn C2 được tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Thu H4, Ngô Thị B1, Lương Thị B2 đã nộp tiền thu lợi bất chính nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Dương Thị H, Lương Thị Hải Y, Dương Quang S, Trần Thị H1 có hành vi Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc mà số tiền đủ truy cứu trách nhiệm hình sự đều từ 02 ngày trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về hình phạt:
Hội đồng xét xử xét thấy: Tội đánh bạc thuộc nhóm tội phạm xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về trật tự công cộng, an toàn xã hội, các bị cáo Dương Thị H, Trần Thị H1, Vương Thị O đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo Ngô Thị B1, Lương Thị B2 có 01 tiền sự nhưng đã được xóa án tích, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền các bị cáo đánh bạc và tổ chức đánh bạc không lớn, hành vi của các bị các chưa đến mức phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo, làm gương cho những người có ý định phạm tội.
Đối với bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Quang S số tiền dùng để đánh bạc rất lớn, hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, do đó, cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục.
Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Dương Thị H, Trần Thị H1, Vương Thị O, Ngô Thị B1, Lương Thị B2.
Đối với bị cáo Lương Thị Hải Y, Dương Quang S: Các bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A50 màu xanh thu giữ của bị cáo Lương Thị Hải Y: Bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để nhận ghi số lô, số đề nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA (loại bàn phím) màu đen thu giữ của bị cáo Lương Thị Hải Y: Bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để nhận ghi số lô, số đề nhưng chiếc điện thoại này đã cũ hỏng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy M51, màu đen thu giữ của bị cáo Dương Quang S: Bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để đánh bạc nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A39 màu vàng trắng thu giữ của bị cáo Dương Thị H: Bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để nhận ghi số lô, số đề nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7, màu trắng hồng thu giữ của bị cáo Trần Thị H1: Bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để đánh bạc nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
- Tiền Việt Nam: 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lương Thị Hải Y: là tiền bị cáo Y nhận ghi số lô, số đề cho khách nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
[6] Về số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo:
Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ nhà nước, cụ thể như sau:
- + Bị cáo Lương Thị Hải Y phải nộp lại số tiền là: 2.778.230 đồng (trong đó có số tiền 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) bị thu giữ khi bị cáo bị bắt quả tang).
- + Bị cáo Dương Thị H phải nộp lại số tiền là: 1.202.120 đồng và số tiền đã được bị cáo Trần Thị H1 thanh toán là 6.974.000 đồng. Tổng cộng là 8.176.120 đồng.
- + Bị cáo Ngô Thị B1 phải nộp lại số tiền là: 3.080.000 đồng và số tiền đã được người chơi bạc thanh toán thêm là 500.000 đồng. Tổng cộng là 3.580.000 đồng.
- + Bị cáo Lương Thị B2 phải nộp lại số tiền là: 288.400 đồng.
- + Bị cáo Trần Thị H1 phải nộp lại số tiền đã được bị cáo Dương Thị H thanh toán là: 586.000 đồng.
Xác nhận bị cáo Lương Thị Hải Y đã nộp 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001082 ngày 14/12/2023 tại Chi cục thi thành án dân sự thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận bị cáo Dương Quang S đã nộp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001089 ngày 03/01/2024 tại Chi cục thi thành án dân sự thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận bị cáo Dương Thị H đã nộp 52.000.000 đồng (năm mươi hai triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001168 ngày 07/03/2024 tại Chi cục thi thành án dân sự thành phố C, tỉnh Cao Bằng và Biên lai thu tiền số 0001087 ngày 03/01/2023 tại Chi cục thi thành án dân sự thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận bị cáo Lương Thị B2 đã nộp 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001167 ngày 07/03/2024 tại Chi cục thi thành án dân sự thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Xác nhận bị cáo Ngô Thị B1 đã nộp 53.080.000 đồng (năm mươi ba triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001169 ngày 07/03/2024 tại Chi cục thi thành án dân sự thành phố C, tỉnh Cao Bằng và Biên lai thu tiền số 0001088 ngày 03/01/2023 tại Chi cục thi thành án dân sự thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc các bị cáo Dương Thị H, Lương Thị Hải Y, Dương Quang S, Vương Thị O, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Các bị cáo Ngô Thị B1, Lương Thị B2, Trần Thị H1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị B1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 62/2024/HSST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về hình sự (đánh bạc, tổ chức đánh bạc)
- Số bản án: 62/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị H và đồng phạm - Đánh bạc
