|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HS.ST Ngày 14-5-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thảo
Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2024/HSST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN HỮU T, tên gọi khác: không; sinh ngày 02 tháng 03 năm 1992,
tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: số nhà K L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Hữu T (sinh năm 1950) và bà Huỳnh Thị H (sinh năm: 1951); bị cáo là con thứ bảy trong gia đình có 07 anh chị em; bị cáo chưa có vợ con;
tiền án: Ngày 30/6/2021, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt ngày 16/5/2023; tiền sự: không;
nhân thân:
Ngày 12/4/2021 bị Công an quận T ra quyết định số 38 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số 750.000 đồng.
Ngày 10/01/2012 bị Ủy ban nhân dân thành phố Đ ra quyết định số 354 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 05 -06 với thời hạn 12 tháng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam”, từ ngày 01/02/2024. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: ông Trần Văn S, sinh năm 1998; Địa chỉ: K P, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Duy T1, sinh năm 2001; Địa chỉ: Xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02h00 ngày 16/10/2023, bị cáo Nguyễn Hữu T2 đi bộ ở các kiệt, hẻm đường P, quận T, thành phố Đà Nẵng để quan sát xem tài sản của người khác có sở hở thì trộm cắp. Khi đến nhà số K đường P ông Trần Văn S đang sinh sống thì phát hiện ổ khóa chỉ móc lại nên T2 mở cửa đi vào nhà. Khi vào trong nhà, T2 quan sát xung quanh không có tài sản gì, T2 tiếp tục đi lên tầng hai của ngôi nhà thì thấy có một phòng mở cửa. T2 đi vào trong thấy ông S đang nằm ngủ trên giường và có 01 điện thoại Redmi, 01 máy tính bảng Xiaomi 6 đang sạc pin để trên ghế nên T2 lén lút lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần, máy tính bảng thì T2 kẹp vào cạp quần phía trước bụng rồi nhanh chóng tẩu thoát. Đến khoảng 07h00 cùng ngày, T2 đem máy tính bảng đưa cho một người tên D (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ bản giúp được số tiền 1.100.000 đồng. Khoảng một tuần sau T2 đem chiếc điện thoại đi bán ở cửa hàng số F T, thành phố Đà Nẵng do ông Phạm Duy T1 làm chủ được số tiền 800.000 đồng, toàn bộ số tiền có được Tín tiêu xài cá nhân hết. Quá trình làm việc, Nguyễn Hữu T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Theo bản Kết luận định giá tài sản ngày 27/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 điện thoại di động Redmi K50 Pro 256GB trị giá 5.960.000 đồng; 01 máy tính bảng Xiaomi pad 6 Pro 128GB trị giá 6.970.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 12.930.000 đồng.
- Vật chứng thu giữ:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thu giữ: 01 điện thoại di động Redmi K50 Pro, Cơ quan CSĐT Công an quận T, thành phố Đà Nẵng trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Văn S; 01 đĩa CD kèm theo hồ sơ vụ án.
- Trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hữu T2 đã vận động gia đình bồi thường cho người bị hại ông Trần Văn S số tiền 7.000.000 đồng; ông S đã nhận lại chiếc điện thoaị bị trộm cắp và nhận đủ số tiền 7.000.000 đồng do bị cáo bồi thường, ông S không có yêu cầu gì thêm. Người liên quan ông Phạm Duy T1 không yêu cầu bị cáo T2 bồi thường gì.
Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKS-TK ngày 26 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu T2 theo như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T2 từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
* Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa đoạn camera ghi lại diễn biến hành vi bị cáo Nguyễn Hữu T2 trộm cắp tài sản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại 01 điện thoại di động
Redmi K50 Pro cho người bị hại ông Trần Văn S là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Trần Văn S và người liên quan ông Phạm Duy T1 không yêu cầu bị cáo T2 bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi ông Phạm Duy T1 mua điện thoại di động Redmi K50 Pro do bị cáo T2 trộm cắp mà có.
Đối với đối tượng tên D, hiện nay không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh nếu có cơ sở sẽ xử lý sau.
Bị cáo Nguyễn Hữu T2 thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bị hại ông Trần Văn S vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên tòa, người bị hại là ông Trần Văn S; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Duy T1 vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng, những người này đã được lấy lời khai và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu T2 đã khai nhận: Vào 02 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 10 năm 2023, tại nhà số K đường P, quận T, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Hữu T2 đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Redmi K50 Pro 256GB trị giá 5.960.000 đồng và 01 máy tính bảng Xiaomi pad 6 Pro 128GB trị giá 6.970.000 đồng của ông Trần Văn S. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 12.930.000 đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; Biên bản trích xuất camera; vật chứng thu giữ; kết luận định giá tài sản... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy
tố bị cáo Nguyễn Hữu T2 với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Tội phạm mà bị cáo gây ra xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Nguyễn Hữu T2 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì tham lam, muốn thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân mà không cần bỏ sức lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội; do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Bị cáo Nguyễn Hữu T2 từng bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và 18 tháng từ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự tại Bản án số 70/2021/HS-ST ngày 30/6/2021. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/5/2023, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục bị khởi tố, truy tố và xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên bị cáo T2 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; vận động người nhà bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho anh Trần Văn S, anh S có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo T2 là người có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử về các hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 12/4/2021 và bị Ủy ban nhân dân thành phố Đ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào ngày 10/01/2012; sau khi mãn hạn tù, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chăm chỉ lao động, làm ăn lương thiện để đóng góp phát triển gia đình và xã hội mà tiếp tục tái phạm hành vi “Trộm cắp tài sản”; điều đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xét xử nghiêm, áp dụng hình phạt tù, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động Redmi K50 Pro. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 219/QĐ-ĐCSHS ngày 31/01/2024 trả lại chiếc điện thoại này cho chủ sở hữu hợp pháp ông Trần Văn S là đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 đĩa DVD chứa đoạn camera ghi lại diễn biến bị cáo Nguyễn Hữu T2 trộm cắp tài sản vào ngày 16/10/2023 tại địa chỉ K đường P, thành phố Đà Nẵng tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
[8] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Trần Văn S đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là điện thoại di động Redmi K50 Pro đồng thời được gia đình bị cáo T2 bồi thường số tiền 7.000.000 đồng đối với máy tính bảng Xiaomi pad 6 Pro 128GB, ông S không yêu cầu bị cáo T2 bồi thường gì thêm; người liên quan ông Phạm Duy T1 không yêu cầu bị cáo T2 bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Vấn đề khác:
Đối với sự việc ông Phạm Duy T1 mua điện thoại di động Redmi K50 Pro là tài sản trộm cắp mà có, quá trình điều tra xác định khi nhận mua điện thoại di động này, ông T1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông T1 là có căn cứ.
Đối với đối tượng tên D nhận bán giúp máy tính bảng cho T2, hiện nay không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan CSĐT Công an quận T tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 01/02/2024).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa đoạn camera ghi lại diễn biến bị cáo Nguyễn Hữu T2 trộm cắp tài sản vào ngày 16/10/2023 tại địa chỉ K đường P, thành phố Đà Nẵng.
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hữu T2 phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2024). Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Dũng |
Bản án số 62/2024/HS.ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 62/2024/HS.ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Tín phạm tội "Trộm cắp tài sản"
