|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày: 13-8-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Cận;
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cao - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Đình T, sinh năm 1958, tại huyện G, tỉnh Nh; nơi cư trú: Xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 7/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình B, bà Trần Thị B1 (đều đã chết); vợ là Trần Thị H, có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 22-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 28-4-2024; “có mặt".
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị N - Trợ giúp viên pháp lý; Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N; “có mặt”.
Người làm chứng: Bà Trần Thị H. ông Nguyễn Quốc T1, ông Nguyễn Kim T2, bà Nguyễn Thị H1; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 22-4-2024, tổ tuần tra Công an xã H phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện G tuần tra phát hiện Trần Đình T đang dừng xe mô tô biển kiểm soát 18R1-4766 ở hành lang trước khu vực Bưu cục Đ thuộc xóm E, xã H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Qúa trình kiểm tra T tự giác mở hộp catton, lấy ra 01 gói bằng giấy sách học sinh bên ngoài được bọc túi nilong màu xanh, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “M”) giao nộp cho Tổ tuần tra, T khai nhận đó là heroine T cất giấu với mục đích gửi lên tỉnh Tuyên Quang để bán kiếm lời. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát: 18R1-4766, số tiền 200.000 đồng và 01 hộp catton.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Đình T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A04S và 01 mảnh giấy EMS ghi nhận gửi hàng hoá của Bưu cục Đại Đồng ngày 15-4-2024.
Trần Đình T khai nhận thêm do có quen biết với Nguyễn Quốc T1, T1 đã gọi điện về cho T nói trả nợ T 1.600.000 đồng và nhờ T mua 1.600.000 đồng Heroin gửi lên cho T1 thì được T đồng ý. Tưởng đã đưa 3.200.000 đồng cho chị Nguyễn Thị H1 nhờ chị H1 chuyển khoản cho T, chị H1 đã chuyển 3.200.000 đồng cho T. Đến khoảng 09 giờ ngày 22/4/2024, sau khi T rút tiền tại Chi nhánh Ngân hàng Agribank xã G, huyện G. Nghe người nghiện giới thiệu, T đã đi xe mô tô BKS 18R1 - 4766 đi đến khu vực đê biển xã G, huyện G và mua được 01 gói Heroin, được gói bên ngoài bằng giấy bạc, với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được H2, T đã mang về nhà và sử dụng một ít, phần còn lại T gói lại bằng giấy sách học sinh và bọc bên ngoài bằng túi ni lông màu xanh, sau đó cất giấu vào trong hộp catton, bên ngoài mặt hộp catton có dán giấy với nội dung: "Nguyễn Văn T3, xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Số ĐT 0359.746.xxx - Người nhận: Nguyễn Quốc T1, Thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. SĐT 0389.051.xxx". Đến khoảng 13 giờ 35 phút ngày 22/4/2024, T đã mang hộp catton đó đến Bưu cục Đ thuộc để gửi cho T1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. T đã mua Heroin hết 800.000 đồng và tiền cước gửi hết 100.000 đồng (tổng cộng 900.000 đồng), gửi lên bán cho T1 với giá 1.600.000 đồng, nếu không bị phát hiện bắt giữ thì T sẽ được hưởng số tiền 700.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy sách học sinh (được gói bên ngoài bằng túi nilong màu xanh), được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine (H). Khối lượng mẫu M: 0.916 gam".
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSGT ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Trần Đình T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Trần Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Đình T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A04S. Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 hộp catton bên ngoài hộp có dán giấy ghi nội dung "Nguyễn Văn T3, xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Số ĐT 0359.746.xxx- Người nhận: Nguyễn Quốc T1, Thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. SĐT 0389.051.xxx". Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Bị cáo được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 22-4-2024, tại bưu cục Đ thuộc xóm E, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định, Trần Đình T có hành vi cất giấu 0,916 gam heroin với mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã H phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện G phát hiện bắt quả tang. Nhận thấy bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương; do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; hoàn cảnh gia đình khó khăn là hộ cận nghèo, đã trên 60 tuổi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Trần Đình T: Bị cáo khai nhận ngày 22-4-2024, bị cáo nghe người nghiện giới thiệu đến khu vực đê biển xã G, huyện G, mua của một người qua khe cửa sổ khép kín tại một nhà ở gần khu vực đê biển xã G, huyện G. Nhận thấy ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A04S và số tiền 200.000 đồng thoại thu giữ của Trần Đình T liên quan tới hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với số heroin hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18R1-4766 thu giữ của Trần Đình T là tài sản chung của T và vợ là bà Trần Thị H, bà H không biết T sử dụng chiếc xe trên để mua bán ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H là phù hợp.
[9] Đối với Nguyễn Quốc T1 khai nhận: Tưởng có quen biết T là người cùng quê và quen biết nhau và có vay T số tiền 50.000.000 đồng vào năm 2020, thỉnh thoảng chuyền tiền về giả nợ cho T trong đó có ngày 20-4-2024, T1 không thừa nhận đã nhờ T mua ma tuý gửi chi T, ngoài lời khai của T1 không có căn cứ nào khác để chứng minh nên không đủ căn cứ để xử lý.[10] Đối với người tên Nguyễn Văn T3 ghi trên hộp bìa catton tại Bưu cục Đ, ông T3 khai nhận: ông T3, T1 và T là người cùng quê, ông T3 là chú của T1 và là bạn lính của T. Từ năm 1991 đến nay ông T3 ít về quê, ông không biết và không liên quan đến hành vi vi phạm của T. Cơ quan điều tra không có căn cứ nào khác để chứng minh ông T3 có liên quan đến hành vi mua bán ma tuý nên không có căn cứ để xử lý.
[11] Đối với chị Nguyễn Thị H1 đã cho T1 nhờ chuyển số tiền 3.200.000 đồng cho T, chị H1 không biết T1 nhờ chuyển tiền với mục đích gì nên không có căn cứ để xử lý.
[12] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí nên miễn án phí cho bị cáo và bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 22-4-2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A04S và số tiền 200.000 đồng thu giữ của Trần Đình T. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 801/KL-KTHS ngày 25-4-2024 của Phòng K công an tỉnh N và 01 hộp catton bên ngoài hộp có dán giấy ghi nội dung “Nguyễn Văn T3, xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Số ĐT 0359.746.xxx- Người nhận: Nguyễn Quốc T1, Thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. SĐT 0389.051.xxx” (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 77/2024 lập ngày 24-7-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Trần Đình T.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
iao Thủy |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
6
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù
