Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-5-2024

V/v: “Không công nhận quan hệ

vợ chồng, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Văn Phẩm.

Ông Vũ Ngọc Côn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; trú tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1983; trú tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2023, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn H kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc, có tổ chức cưới hỏi vào ngày 02/12/2003 (âm lịch) nhưng không đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kết hôn. Anh, chị chung sống hạnh phúc được thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, anh H không quan tâm đến gia đình. Chị và anh H đã ly thân từ năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị thấy tình cảm không còn, không thể quay lại đoàn tụ. Chị đã được Toà án giải thích về việc đăng ký kết hôn nhưng chị xác định chị và anh H không đăng ký kết hôn, quá trình chung sống cũng không đăng ký kết hôn. Chị đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh H.

Về con chung: Chị và anh H có hai con chung là Lê Thị Thùy L, sinh năm 2004 và Lê Duy Q, sinh ngày 11/11/2006. Chị nhất trí để anh H nuôi dưỡng cháu Q. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với cháu L đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 16/3/2024 và những lời khai tiếp theo, bị đơn anh Lê Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có được tìm hiểu trước khi kết hôn, có được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương vào cuối năm 2003 (âm lịch), không nhớ ngày tháng chính xác do thời gian đã lâu. Anh và chị H1 có đến UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang để đăng ký kết hôn nhưng đến nay đã làm thất lạc giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống giữa anh và chị T không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có một số mâu thuẫn nhỏ không tránh khỏi như xảy ra cãi vã nhỏ, anh không đánh đập, chửi mắng hay bỏ bê gia đình như chị T trình bày. Nay chị T xin ly hôn, anh không đồng ý vì xác định vẫn còn tình cảm, mong muốn chị T rút đơn để quay về đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị T có hai con chung là Lê Thị Thùy L, sinh năm 2004 và Lê Duy Q, sinh ngày 11/11/2006. Nếu không thể hòa giải thì anh có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Q. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với cháu L đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 01/3/2024, cháu Lê Duy Q trình bày: Nếu bố, mẹ không sống cùng nhau nữa thì cháu có nguyện vọng được sống cùng bố là Lê Văn H.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn anh Lê Văn H được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H là vợ chồng.
  • - Về con chung: Giao con chung là Lê Duy Q, sinh ngày 11/11/2006 cho anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về tài sản chung, công nợ: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005960 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện về việc không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Lê Văn H. Bị đơn anh Lê Văn H có nơi cư trú là thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Văn H được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt chị T, anh H.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn và qua xác minh tại địa phương thì được biết chị T và anh H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 âm lịch và có hai người con chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh H trình bày: Năm 2003, anh và chị H có đến UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang để đăng ký kết hôn nhưng hiện tại anh không lưu giữ được giấy chứng nhận kết hôn, không cung cấp được cho Tòa án. UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp thông tin hiện nay không còn lưu giữ sổ gốc cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 20030-2004; tra cứu sổ đăng ký kết hôn còn lưu trữ thì không có thông tin đăng ký kết hôn giữa chị T và anh H. Do đó không đủ căn cứ để xác định chị T và anh H có đăng ký kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H không được pháp luật công nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H đã phát sinh mâu thuẫn, phía nguyên đơn chị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh H. Bị đơn anh Lê Văn H cũng xác định anh và chị T có mâu thuẫn, có xảy ra cãi vã. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị T vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh H không đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án. Hôi đồng xét xử thấy nguyện vọng đoàn tụ của anh H là không có căn cứ.

Từ những nhận định trên, căn cứ hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H có hai con chung là Lê Thị Thùy L, sinh năm 2004 và Lê Duy Q, sinh ngày 11/11/2006. Chị T và anh H đều xác định nếu không thể hòa giải thì đề nghị giao cháu Q cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Q cũng trình bày nguyện vọng được sống chung cùng bố. Hội đồng xét xử thấy hiện nay cháu Q đang sống cùng anh H, cháu được nuôi dưỡng, giáo dục đầy đủ, anh H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Q phát triển đảm bảo. Do vậy, cần giao cháu Q cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với cháu Lê Thị Thùy L đã trưởng thành, anh H và chị T không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

[3.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H đều trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T: Không công nhận chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn H là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cho anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Duy Q, sinh ngày 11/11/2006 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005960 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, bị đơn anh Lê Văn H không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger