|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HS - ST
Ngày: 11 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi;
Ông Lưu Văn Mạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thọ – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST - HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Tất T (tên gọi khác T1), sinh năm 1980; nơi sinh, nơi cư trú: số B, Đ, tổ dân phố C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: số A, Vòng C, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Tất T2, sinh năm 1936 – đã chết và bà Trịnh Thị Bích N, sinh năm 1954; có vợ Trần Thị Thu T3, sinh năm 1990 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án: Ngày 09/02/2007, bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (ngày 17/10/2007 chấp hành xong hình phạt) nhưng chưa thi hành các khoản án phí hình sự sơ thẩm và tiền tịch thu sung quỹ nhà nước; tiền sự: Không.
Nhân thân: + Ngày 19/5/1995, bị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm về tội “Cướp tài sản của công dân”.
+ Ngày 02/8/1997, bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt Bản án số 79 ngày 19/5/1995 buộc T phải chấp hành 39 tháng tù (ngày 19/4/2000 chấp hành xong hình phạt).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay, “có mặt”.
2. Hoàng Văn C, sinh năm 1986; nơi sinh, nơi cư trú: số G L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M, sinh năm 1958 và bà Lê Thị H, sinh năm 1958; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay, “có mặt”.
3. Nguyễn Việt C1, sinh năm 1986, nơi sinh, nơi cư trú: số B, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Việt H1 sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị M1 sinh năm 1962; chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 27/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Cố ý gây thương tích”; Tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Ngày 21/5/2003, bị Công an huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
+ Ngày 13/7/2021, bị Công an huyện A, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay, “có mặt”.
4. Vũ Thị H2, sinh năm 1975; nơi sinh, nơi cư trú: Số nhà C, Tổ dân phố số F, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Vũ Quang L, sinh năm 1944 và bà Vũ Thị M2 sinh năm 1943- đã chết; có chồng Lê Văn K - đã ly hôn; có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2002;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, “có mặt”.
5. Trần Bích N1, sinh năm 1984; nơi sinh, nơi cư trú: số A đường H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trần Chí C2, sinh năm 1957 - đã chết; và bà Nguyễn Thị M3, sinh năm 1961; có chồng Đỗ Khắc H3 - đã ly hôn và có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, “có mặt”;
6. Mạc Ngọc H4, sinh năm 1984; nơi sinh, nơi cư trú: 14/1/92, Lê Thánh T4, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Mạc Văn T5, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, “có mặt”;
7. Hoàng Xuân M4, sinh năm 1974; nơi sinh: xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: đường M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn H5, sinh năm 1942 - đã chết và bà Vũ Thị C3, sinh năm 1950; có vợ Nguyễn Thị Thúy H6, sinh năm 1981 và có 01 con sinh năm 2009;
Tiền án: Ngày 14/12/2015, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 13 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” (ngày 08/4/2023 chấp hành xong hình phạt);
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 25/8/1997, bị Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 15 năm tù về tội Giết người (ngày 25/10/2007 chấp hành xong hình phạt);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H; “có mặt”;
- Bị hại: Anh Trần Văn K1, sinh năm 1983; địa chỉ: TDP Đ, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định; “có mặt”;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Minh C4, sinh năm 1997; địa chỉ: Số I N, tổ A, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; “vắng mặt”;
- Anh Đặng Đỗ T6, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B CT5 A2 Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; “ có mặt”;
- Người làm chứng:
- Anh Bùi Đình Đ, “vắng mặt”;
- Chị Phạm Thị Thu T7, “vắng mặt”;
- Anh Nguyễn Văn H7, “vắng mặt”;
- Chị Vương Thị Kim A, “vắng mặt”;
- Anh Nguyễn Nhật V, “vắng mặt”;
- Anh Tiền Hồ Công T8, “vắng mặt”;
- Anh Mai Văn V1, “vắng mặt”;
- Anh Đinh Văn D, “vắng mặt”;
- Chị Trần Thị S, “vắng mặt”;
- Ông Vũ Chiến T9, “vắng mặt”;
- Người chứng kiến:
- Ông Phạm Xuân H8; “vắng mặt”;
- Ông Đỗ Văn N2; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thị H2 là giám đốc Công ty G, trụ sở tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có mua bán hàng hóa với Công ty cổ phần Đ1, trụ sở tại thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định do anh Trần Văn K1, sinh năm 1983, hiện ở tại tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định là tổng giám đốc. Quá trình làm ăn, tính đến cuối năm 2023, anh K1 còn nợ H2 số tiền khoảng hơn 10 tỷ đồng, H2 nhiều lần hẹn lịch làm việc để chốt công nợ nhưng anh K1 lấy lý do bận công việc nên hai bên chưa chốt nợ được. Ngoài ra, H2 còn hợp tác kinh doanh với Đỗ Tất T là Phó giám đốc Công ty B, địa chỉ tại 1, đường V, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Quá trình làm ăn, H2 nợ T số tiền khoảng hơn 6 tỷ đồng. T nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng H2 chưa có tiền để thanh toán. H2 nói với T về việc anh K1 còn nợ tiền của H2 và bảo nếu T có biện pháp làm việc với anh K1 để chốt nợ, trả tiền cho H2 thì H2 sẽ thanh toán nợ cho T, T đồng ý. Để T có lý do làm việc với anh K1, H2 thành lập phòng pháp chế của Công ty G, gồm các nhân sự: Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4. Sau đó, H2 lập giấy ủy quyền, giao cho Đỗ Tất T có trách nhiệm thu hồi công nợ của Công ty G đối với Công ty cổ phần Đ1. Sau khi được H2 ủy quyền, T đã nhiều lần liên hệ, đặt lịch với anh K1 để chốt công nợ. Tuy nhiên do bận công việc nên anh K1 chưa làm việc với T. Ngày 01/3/2024, anh K1 hẹn đến ngày 05/3/2024 sẽ làm việc nhưng sau đó lại đổi lịch sang ngày 07/3/2024. Lúc này, T cho rằng anh K1 có ý trốn tránh làm việc và chưa có ý định trả nợ nên T nảy sinh ý định tìm và bắt đưa anh K1 về tỉnh Thái Bình để làm việc.
Hồi 12 giờ 03 phút ngày 03/3/2024, T nhắn tin qua tài khoản zalo cho H2, nội dung “Sẽ mời K1 về Công an tỉnh T để làm rõ hành vi sai trái của thằng K1, còn sau đó để em”, H2 nhắn tin “Ok”, tức là đồng ý. Sau đó, H2 nhắn tin lại cho T “Cho về Công an huyện”, hiểu ý của H2 là đi tìm, bắt anh K1 đưa về Công an huyện T, tỉnh Thái Bình nên T thả tim dưới phần tin nhắn của H2, tức là đồng ý và nhắn lại “Trường hợp không hợp tác phải lôi về bên Thái Bình”, H2 đồng ý, thả tim dưới phần tin nhắn của T. Để kiểm tra, giám sát hoạt động của anh K1, chiều ngày 06/3/2024, T bảo Hoàng Văn Công đến huyện G, tỉnh Nam Định tìm anh K1, C đồng ý và rủ Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4, N1 rủ thêm Nguyễn Việt C1 cùng đi, N1, H4, C1 đồng ý. Sau đó, Mạc Ngọc H4 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil biển kiểm soát 15A-881.33 chở N1, C1, C đi từ thành phố Hải Phòng đến nhà anh K1 ở thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định nhưng không thấy anh K1 ở nhà. Đến 20 giờ 20 phút cùng ngày, H2 nhắn tin, nói chuyện điện thoại qua zalo với T nói anh K1 thông báo hoãn và chuyển lịch làm việc sang ngày 08/3/2024, nhưng H2 không đồng ý và thống nhất ngày 07/3 vẫn sang Nam Định gặp anh K1 để làm việc. Sau đó, N1 nhắn tin zalo nói chuyện với T thì được T gửi ảnh chụp qua màn hình đoạn nói chuyện giữa H2 và anh K1 liên quan đến việc anh K1 thông báo hoãn lịch làm việc, N1 nhắn tin “Bố thằng chó chết” ý là chửi anh K1, T nhắn tin bảo N1 “Sáng mai bám chặt”, “Thấy người tóm luôn” N1 hiểu ý của T là ngày 07/3/2024 nếu thấy anh K1 sẽ bắt anh K1 đưa về Công an huyện T để làm việc giải quyết công nợ nên trả lời “Vâng”. Đồng thời N1 tạo nhóm zalo có 03 thành viên gồm N1, C và C1 để nhắn tin trao đổi việc ăn uống, sinh hoạt cũng như các công việc liên quan đến anh K1. N1 chụp ảnh màn hình đoạn nói chuyện với T, nội dung “K1 không làm việc theo như lịch hẹn, ngày mai nếu thấy K1 sẽ đưa K1 đi đến Công an huyện T để làm việc” thì Công nhắn lại hỏi “Bây giờ là như nào”, Ngọc n “ở đây mai theo sát xem tóm nó”; “Mai 6h dậy 6h30 đi dùng nó” thì C, C1 đồng ý.
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, H4 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A-881.33 chở C1, N1, C đi đến gần nhà anh K1 ở thị trấn N, huyện G thì thấy anh K1 đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18G1-387.36 di chuyển theo hướng từ huyện G đến huyện H, tỉnh Nam Định nên H4 điều khiển xe ô tô bám theo sau. Trên đường đi, N1 nhắn tin thông báo cho T biết vị trí di chuyển của anh K1, thì Đỗ Tất T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI CUSTIN, biển kiểm soát 15K-174.91 chở Hoàng Xuân M4 từ Thành phố Hải Phòng theo vị trí N1 gửi. Lúc này H2 nhờ anh Bùi Đình Đ, sinh năm 1985, trú tại phường T, thành phố T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Honda CRV biển kiểm soát 17A - 040.21 chở H2 và chị Phạm Thị Thu T7, sinh năm 1990 trú tại tổ dân phố số A, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (là nhân viên kế toán của công ty G) di chuyển từ tỉnh Thái Bình đến tỉnh Nam Định. Khi thấy anh K1 đi đến ngân hàng Q chi nhánh H9, thuộc tổ dân phố số A, thị trấn Y, huyện H thì C gọi điện, nhắn gửi vị trí cho H2 và T biết. Nhận được thông tin, H2 dặn C giám sát, không để anh K1 trốn, nếu gặp thì bảo anh K1 ra quán cà phê nói chuyện, còn T bảo C “Mời nó ra quán cà phê nói chuyện, nếu nó không đồng ý thì đưa thẳng nó về Công an T làm việc”. Sau đó H2 bảo anh Đ lái xe đi đến ngân hàng Q chi nhánh H9. Đến nơi, anh Đ dừng xe đối diện Ngân hàng, H2 đi bộ đến sân Ngân hàng gặp C, C1, H4, N1 đang đứng đợi ở sân cách cửa ngân hàng khoảng 05 mét. Thấy anh K1, H2 bảo “Ra quán cà phê nói chuyện”, anh K1 không đồng ý và đi vào trong phòng giao dịch của ngân hàng.
Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, Đỗ Tất T điều khiển xe ô tô chở Hoàng Xuân M4 dừng chếch chéo phía trước Ngân hàng Q chi nhánh huyện H9, sau đó T đi bộ xuống trước, M4 đi theo sau. Khi thấy H2, N1, C1 đứng ở sân Ngân hàng, T hỏi “Thằng K1 nó đâu” Huệ trả lời “Nó ở trong ngân hàng”, T hỏi tiếp “Sao không gọi nó ra” H2 nói “Nó không ra”, Đỗ Tất T trả lời “Để em vào”. Tiếp đó T đi vào trong ngân hàng, C1, H4 đi theo sau. T đến vị trí anh K1 ngồi tại hàng ghế chờ của khách hàng, túm vào vai trái anh K1 nói “Khang ơi, anh T đây ra ngoài gặp anh và chị H2 để làm việc”, anh K1 hất tay T ra và nói “Tôi không làm việc” thì bị T giơ tay phải tát vào người rồi túm cổ áo lôi anh K1 đứng dậy, C1 và H4 quát anh K1 “Đứng dậy ra ngoài”. Khi thấy T kéo cổ áo anh K1 lôi ra ngoài phía cửa trước của ngân hàng thì H4 khoác vai anh K1 đẩy ra ngoài, anh K1 dùng hai tay giằng tay T ra và hô “cứu tôi, cướp giết người”. Khi ra đến ngoài cửa ngân hàng T đưa chìa khóa xe ô tô cho M4. Sau đó, H4 dùng tay nắm sau gáy anh K1, T túm tóc dúi đầu anh K1 xuống đất, dùng chân phải lên gối, đạp về phía người anh K1 nhưng không trúng, khiến cho T bị mất đà trượt ngã, tiếp đó T hô lên “Mọi người bắt nó giúp em để đưa về công an”. Lúc này, Hoàng Xuân M4 đứng ở sân ngân hàng cách T khoảng 02 mét quan sát. T chỉ vào mặt anh K1 nói “Hôm nay tao bắt mày về Công an T”. H4 vòng tay ra sau lưng anh K1 cùng T kéo, đẩy anh K1 ra vị trí của H2 nhưng anh K1 chống cự, giằng lại về phía cửa ngân hàng thì N1, C1 và H2 đi đến. T vẫn giữ cổ áo anh K1 nói “Giúp anh tống nó lên xe” thì H4 đẩy lưng, C1, T giữ tay anh K1, H2 bảo “Đi đi đi lên xe đi”, N1 nói theo “Đi ra lên xe đi về công an Thái T10 làm việc”. Do anh K1 không đồng ý, giằng ra ngồi xuống đất nên T dùng khuỷu tay phải đánh 01 cái vào lưng anh K1. C1 nắm vai áo bên trái của anh K1, T nắm vai áo bên phải kéo anh K1 ra đường. Thấy mọi người bắt đưa anh K1 ra đến gần mép đường quốc lộ 21 phía trước cửa ngân hàng nên Hoàng Xuân M4 chủ động điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15K-174.91 đến vị trí cách T đứng khoảng 02 mét để đón T và anh K1. Hai bên tiếp tục giằng co, T dùng khuỷu tay phải đánh 01 cái vào vùng đầu anh K1, H4 dùng tay giữ phần gáy anh K1. H2, N1 đi đến cùng T, C1, H4 đẩy anh K1 về phía cửa xe ô tô do M4 điều khiển. C1 dùng hai tay ôm lấy anh K1 từ phía sau, anh K1 nói “Để em đi xe máy về làm việc” nhưng không ai đồng ý. Anh K1 giằng ra nhưng bị T, H4, C1, N1 đứng quây xung quanh nên anh K1 không chạy ra được. Khi cả nhóm ép, đẩy anh K1 đến gần xe ô tô thì H4 dùng tay trái kéo mở cửa xe bên phải, C từ trong ngân hàng chạy ra túm gáy anh K1 đẩy vào trong xe ô tô. Anh K1 dùng tay phải giữ cửa xe không lên thì C bê cả hai chân anh K1, T xốc nách, H4 đun mông cùng đẩy anh K1 vào trong xe. Khi đưa được anh K1 lên xe ô tô, Hoàng Văn C lên xe giữ anh K1 và kéo đóng cửa xe lại. T lên ngồi tại ghế phụ phía trước rồi bảo M4 điều khiển xe đi theo xe ô tô biển kiểm soát 17A – 040.21 do anh Đ điều khiển chở H2 và chị T7 đi về Công an T. H4 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A-881.33 chở N1, C1 đi theo phía sau. Quá trình trên xe, anh K1 nói với T về công ty K2 để làm việc nhưng T không đồng ý. Đến khoàng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi M4 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15K-174.91 chở T, C cùng anh K1 đi đến khu vực phà C thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện G thì bị tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an huyện G phát hiện, bắt giữ được Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Hoàng Xuân M4. Đến 16 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, Vũ Thị H2, Trần Bích N1, Nguyễn Việt C1 và Mạc Ngọc H4 đến Công an huyện H đầu thú. Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 61/CT - VKS ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố các bị cáo Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Vũ Thị H2, Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4, Nguyễn Việt C1 và Hoàng Xuân M4 về tội “Bắt người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có khiếu nại gì và ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bố các bị cáo: Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Vũ Thị H2, Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4, Nguyễn Việt C1 và Hoàng Xuân M4 về tội “Bắt người trái pháp luật”.
Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Tất T. Xử phạt bị cáo T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
Áp dung khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Xuân M4. Xử phạt bị cáo M4 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/04/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Việt C1. Xử phạt bị cáo C1 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 157, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị H2. Xử phạt bị cáo H2 từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.(bị cáo đã bị tạm giữ 07/03/2024 đến 16/03/2024).
Áp dụng khoản 1 Điều 157, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4, Hoàng Văn C. Xử phạt mỗi bị cáo từ 9 đến 12 tháng cho hưởng án treo ( bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam 07/03/2024 đến 11/07/2024). Áp dụng điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự trả tự do cho các bị cáo ngay tại phiên tòa.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng; tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do anh Trần Văn K1 còn nợ Vũ Thị H2 - là giám đốc Công ty G số tiền khoảng trên 10 tỷ đồng, H2 nhiều lần hẹn lịch làm việc để chốt nợ nhưng anh K1 khất lần nên H2 đã thành lập Phòng pháp chế của Công ty gồm Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4 và lập giấy ủy quyền giao cho Đỗ Tất T có trách nhiệm thu hồi công nợ đối với anh K1. T đã nhiều lần liên hệ, đặt lịch với anh K1 để làm việc, chốt công nợ nhưng anh K1 lấy lý do bận để khất lần, hoãn lịch hẹn chốt nợ. T cho rằng anh K1 có ý trốn tránh làm việc và chưa có ý định trả nợ nên nảy sinh ý định tìm và bắt anh K1 đưa về tỉnh Thái Bình để làm việc chốt nợ. Ngày 03/3/2024 T trao đổi thống nhất với H2 việc bắt anh K1 thì được H2 đồng ý. Chiều ngày 06/3/2024, T bảo Hoàng Văn Công đến thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định tìm và giám sát theo dõi hoạt động của anh K1, C rủ Trần Bích N1 và Mạc Ngọc H4; N1 rủ thêm Nguyễn Việt C1 cùng đi. Sáng ngày 07/3/2024, khi phát hiện thấy anh K1 đang di chuyển từ huyện G đến huyện H, tỉnh Nam Định thì N1, C gọi điện, nhắn gửi vị trí của anh K1 cho T và H2. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, anh K1 đang ngồi ở hàng ghế chờ của khách hàng tại Ngân hàng Q chi nhánh H9, thuộc tổ dân phố số A, thị trấn Y, huyện H, T đến dùng tay tát, đánh anh K1 và cùng C, H4, C1, N1, H2 lôi kéo, bắt anh K1 lên xe ô tô biển kiểm soát 15K-174.91 do Hoàng Xuân M4 điều khiển để đưa anh K1 về tỉnh Thái Bình trái với ý muốn của anh K1. Đến khoàng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi M4 điều khiển ô tô biển kiểm soát 15K-174.91 đưa anh K1 đến khu vực phà C, thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện G thì bị tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an huyện G phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Trần Bích N1, Vũ Thị H2, Mạc Ngọc H4, Nguyễn Việt C1 và Hoàng Xuân M4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tự do thân thể là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó cần xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm. Bị cáo Đỗ Tất T là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò số 1. Các bị cáo Vũ Thị H2, Hoàng Văn C, Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4, Nguyễn Việt C1 tham gia giúp sức bị cáo T nên giữ vai trò đồng phạm giúp sức.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo có thái độ ăn năn hối cải, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo C, H2, N1, H4 đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo H2 có bố đẻ được tặng thưởng Bằng khen đã có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo H2, H4, N1, C1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Công an huyện H đầu thú, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo nên các bị cáo đều được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo T, C1, M4 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm“ theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự do các bị cáo đã bị kết án và chưa được xóa án tích, cả 03 bị cáo đều là người có nhân thân xấu.
[6] Về hình phạt: Bị cáo Đỗ Tất T là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có tiền án và nhân thân xấu; bị cáo Nguyễn Việt C1 tích cực tham gia việc bắt người trái pháp luật và có nhân thân xấu; bị cáo Hoàng Xuân M4 tuy không tham gia tích cực nhưng giúp sức và có nhân thân xấu, do đó các bị cáo không đủ điều kiện cho hưởng án treo nên cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo trên ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung;
Các bị cáo Vũ Thị H2, Trần Bích N1, Hoàng Văn C, Mạc Ngọc H4, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và xã hội cũng đảm bảo được tác dụng của hình phạt đối với các bị cáo.
[7] Xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đỗ Tất T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M535G và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A57. Xét thấy bị cáo T đã sử dụng chiếc điện thoại di động S1 M535G liên lạc, bàn bạc thống nhất với các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M535G. Đối với chiếc điện thoại OPPO A57 là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Hoàng Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xanh. Xét thấy C đã sử dụng điện thoại di động này nhắn tin liên lạc với các bị cáo khác để thực hiện hành vi phạm tội do đó cần tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại này.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Vũ Thị H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh than và 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda CRV, màu nâu ghi, biển kiểm soát 17A - 040.21. Xét thấy bị cáo H2 đã sử dụng điện thoại di động này liên hệ với các bị cáo khác để bàn bạc thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại. Đối với chiếc xe ô tô là tài sản hợp pháp của bị cáo H2, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Trần Bích N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu đen. Xét thấy N1 đã sử dụng điện thoại di động này nhắn tin liên lạc với các bị cáo khác để thực hiện hành vi phạm tội do đó cần tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại này.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Việt C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone SE màu đỏ; Xét thấy bị cáo T đã sử dụng 01 chiếc điện thoại di động vào việc liên lạc, bàn bạc thống nhất với các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng đồng. Đối với chiếc điện thoại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone SE màu đỏ là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu VINFAST FADIL, biển kiểm soát 15A-881.33 thu giữ của bị cáo Mạc Ngọc H4: Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của anh Phạm Minh C4 cho anh Đặng Đỗ T6 thuê sử dụng, ngày 06/3/2024 anh T6 cho bị cáo H4 mượn xe ô tô đi, anh T6 không biết H4 sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội do đó cần trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu là phù hợp.
Chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI CUSTIN biển kiểm soát 15K-174.91 thu giữ của Đỗ Tất T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Vương Thị Kim A, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố số A, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng, chị Kim A đã ủy quyền cho anh Nguyễn Nhật V, sinh năm 1986 trú tại số E T, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng kinh doanh dịch vụ cho thuê xe, chị Kim A và anh V không biết bị cáo T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh V quản lý, sử dụng là phù hợp.
[8] Về dân sự: Ngày 07/3/2024 anh Trần Văn K1 bị Đỗ Tất T dùng tay, chân đánh, tuy nhiên không để lại thương tích, không phải điều trị tại cơ sở y tế nào, anh K1 không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Đối với anh Bùi Đình Đ, chị Phạm Thị Thu T7, anh Tiền Hồ Công T8, ngày 07/3/2024 những người này đi cùng bị cáo H2 đến Ngân hàng Q chi nhánh H9, Nam Định đều không được bị cáo H2 bàn bạc, không biết, không được hứa hẹn gì, nên cơ quan Công an không xử lý những người này là phù hợp.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[11] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo: Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Trần Bích N1, Vũ Thị H2, Mạc Ngọc H4, Nguyễn Việt C1 và Hoàng Xuân M4 phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Tất T. Xử phạt bị cáo T 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Xuân M4. Xử phạt bị cáo M4 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/04/2024.
1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Việt C1. Xử phạt bị cáo C1 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.
1.4. Căn cứ khoản 1 Điều 157, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị H2. Xử phạt bị cáo H2 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ 07/03/2024 đến 16/03/2024).
Giao bị cáo Vũ Thị H2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
1.5. Căn cứ khoản 1 Điều 157, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4, Hoàng Văn C. Xử phạt mỗi bị cáo 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (các bị cáo đều bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/03/2024 đến 11/07/2024).
Giao bị cáo Trần Bích N1 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Mạc Ngọc H4 cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Hoàng Văn C cho Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đối với bị cáo Vũ Thị H2.
Trả tự do cho bị cáo Trần Bích N1, Mạc Ngọc H4, Hoàng Văn C ngay tại phiên toà nếu các bị cáo không bị tạm giam về một hành vi phạm tội khác.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
* Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M535G thu của bị cáo Đỗ Tất T.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xanh thu giữ của Hoàng Văn C.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh than thu của Vũ Thị H2;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu đen thu của Trần Bích N1;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu vàng đồng thu của Nguyễn Việt C1.
*Tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại chứa sim số 0931.333.xxx; 0916160146; 0912106192; 0886639255; 0932118398; 0856552555.
* Trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu VINFAST FADIL, biển kiểm soát 15A-881.33 thu giữ của bị cáo Mạc Ngọc H4 cho anh Phạm Minh C4, anh Đặng Đỗ T6; trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda CRV, màu nâu ghi, biển kiểm soát 17A - 040.21 cho bị cáo Vũ Thị H2. Trả lại bị cáo Đỗ Tất T 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A57, trả lại bị cáo Nguyễn Việt C1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone SE màu đỏ.
(Vật chứng được mô tả trong Biên bản giao vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Buộc các bị cáo: Đỗ Tất T, Hoàng Văn C, Trần Bích N1, Vũ Thị H2, Mạc Ngọc H4, Nguyễn Việt C1 và Hoàng Xuân M4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 62/2024/HS - ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về bắt người trái pháp luật
- Số bản án: 62/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Bắt người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội bắt giữ người trái pháp luật
