|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/DS-ST
Ngày: 11-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa, yêu cầu bồi
thường thiệt hại
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hưởng
- Ông Phạm Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2024/TLST-DS ngày 07/5/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, yêu cầu bồi thường thiệt hại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 69/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1978; Địa chỉ thường trú: Tổ B, Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ cư trú hiện nay: Nhà trọ Lê Thị Thanh H1, số A Khu phố F, đường N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An
Bị đơn: Bà Nguyễn Lâm Kim N, sinh năm 1998; Ông Bùi Văn P, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số A đường N, Khu phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
(Bà H có Đơn xin vắng mặt; Bà N, ông P vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 18/3/2024, Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, bản tự khai ngày 24/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị Thanh H trình bày như sau:
Do quen biết nên bà H có bán cho bà Nguyễn Lâm Kim N, ông Bùi Văn P một số hàng hóa tạp hóa với tổng cộng số tiền là 1.591.000 đồng, bà H đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng bà N, ông P hoàn trả số tiền mua hàng còn thiếu nhưng vợ chồng bà N, ông P cố tình lẩn tránh không trả. Ngày 06/11/2023, vợ chồng bà N, ông P có ký cho bà giấy nợ ngày 6/11/2023 thể hiện số tiền mua hàng còn thiếu là 1.591.000 đồng, bà N và ông P cam kết đến ngày 20/11/2023 sẽ trả cho bà số tiền trên. Tuy nhiên, vợ chồng bà N và ông P không trả tiền cho bà theo thời hạn đã cam kết.
Bà khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Lâm Kim N và ông Bùi Văn P phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả số tiền mua hàng còn thiếu là 1.591.000 đồng, ngoài ra không còn yêu cầu khởi kiện nào khác. Bà xin rút lại yêu cầu tính lãi suất là 0.3%/tháng x 09 tháng 12 ngày (kể từ ngày 06/6/2023 đến ngày 18/3/2024) là 397.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi tiếp theo từ ngày 19/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm; Yêu cầu trả tiền đánh máy là 150.000 đồng; Yêu cầu trả tiền thất thoát do đi lại là 500.000 đồng.
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: Căn cước công dân của nguyên đơn, Giấy nợ ngày 6/11/2023.
Nguyên đơn xác định ngoài những chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác để cung cấp và không yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ. Đồng thời, xác định không yêu cầu Tòa án triệu tập hoặc đưa thêm người tham gia tố tụng khác trong vụ án.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Lâm Kim N và ông Bùi Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà N và ông P luôn vắng mặt không lý do và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án, không có yêu cầu phản tố cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn bà N và ông P có địa chỉ cư trú tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An. Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
[1.2]. Nguyên đơn bà Vũ Thị Thanh H có Đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà N và ông P đã được Tòa án triệp tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định.
[1.3]. Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: Ngày 24/5/2024, nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu tính lãi suất là 0.3%/tháng x 09 tháng 12 ngày (kể từ gày 06/6/2023 đến ngày 18/3/2024) là 397.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi tiếp theo từ ngày 19/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm; Yêu cầu trả tiền đánh máy là 150.000 đồng; Yêu cầu trả tiền thất thoát do đi lại là 500.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Căn cứ vào Giấy nợ ngày 6/11/2023 thể hiện ông P và bà N có mua hàng tại quán của bà H với số tiền 1.591.000 đồng và cam kết sẽ trả số tiền này vào ngày 20/11/2023, tuy nhiên bà N, ông P không trả tiền cho bà H. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông P, bà N vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án hoặc văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do bà H đưa ra. Căn cứ Điều 288, 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông P, bà N có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà H số tiền mua hàng hóa còn nợ là 1.591.000 đồng.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà N và ông P phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho bà H theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 các Điều 35, Điều 39, Điều 217, Điều 244, Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 288, 430, 440, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Thanh H với bị đơn bà Nguyễn Lâm Kim N, ông Bùi Văn P về việc yêu cầu tính lãi suất là 0.3%/tháng x 09 tháng 12 ngày (kể từ gày 06/6/2023 đến ngày 18/3/2024) là 397.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi tiếp theo từ ngày 19/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm; Yêu cầu trả tiền đánh máy là 150.000 đồng; Yêu cầu trả tiền thất thoát do đi lại là 500.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Thanh H đối với bà Nguyễn Lâm Kim N và ông Bùi Văn P về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Buộc bà Nguyễn Lâm Kim N và ông Bùi Văn P có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Vũ Thị Thanh H số tiền 1.591.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Lâm Kim N và ông Bùi Văn P phải liên đới chịu 300.000đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà Vũ Thị Thanh H là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007317 ngày 07/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Nga |
Bản án số 62/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Số bản án: 62/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Thanh Hà "tranh chấp HĐMB" Nguyễn Lâm Kim Ngọc
