TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HS-ST
Ngày: 10-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Phạm Thị Hoan.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quý T - Kiểm sát viên.
Ngày 10/9/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 09/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 27/8/2024, đối với bị cáo:
- - NGUYỄN DANH H, sinh năm 2003 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh S và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/6/2024, đến ngày 28/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên toà.
- - Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Danh H2: Bà Nguyễn Thị C, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt.
- - Bị hại: Ông Nguyễn Huy T1, sinh năm 1950, bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958, đều có địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
- - Người làm chứng: Anh Nguyễn Huy D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Danh H2 là người làm thuê, đồng thời ăn ở, sinh hoạt tại xưởng đồ gỗ của anh Nguyễn Huy D đặt tại gia đình bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Huy T1 (ông T1, bà B là bố mẹ của anh D) có địa chỉ thôn V, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương. Quá trình làm việc, H2 biết bà B, ông T1 có tiền để trong tủ quần áo tại gian phòng khách cạnh cầu thang đi lên tầng 2 nhà ở của gia đình bà B, nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt, như sau: Khoảng đêm cuối tháng 5/2024, lợi dụng gia đình bà B ngủ, cửa nhà không khoá, H2 đi vào trong nhà đến vị trí tủ đựng quần áo dùng điện thoại OPPO A94 soi tìm chìa khoá, mở ngăn kéo đựng tiền chiếm đoạt 1.000.000₫. Khoảng đêm ngày 10/6/2024, với hành vi tương tự như đã nêu ở trên, H2 chiếm đoạt 2.200.000đ. Khoảng 2h00 phút ngày 13/6/2024, H2 trèo tường bao vào nhà bà B thấy cửa nhà không khoá, H2 đi vào trong nhà đến vị trí tủ quần áo, dùng điện thoại OPPO A94 soi tìm chìa khoá tủ nhưng không thấy. H2 đi ra ngoài hiên nhà, lấy một mũi tua vít 04 cạnh mang vào nhà, dùng mũi tua vít tháo rời các con vít ở tấm vách ngăn ở giữa tủ, tạo thành một khe hở và luồn tay phải qua khe hở ngăn tủ bên cạnh lấy được một ví da, bên trong có 7.600.000₫.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: 01 ví da, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 15cm x 7cm, tại thời điểm định giá có giá trị là 0 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKSHD-TH ngày 05/8/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Danh H2 về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại lời khai của bị hại là ông T1, bà B xác định: Bị cáo H2 đã ba lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông bà vào các thời gian như đã nêu ở trên, với tổng số tiền 10.800.000đ. Quá trình giải quyết vụ án, ông bà có quan điểm về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử đối với H2 theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, buộc H2 phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt 10.800.000đ. Đối với một ví da, màu đen, không nhãn hiệu, đã cũ, hiện không thu hồi được, nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Tại phiên tòa: Người bào chữa của bị cáo H2 và bị cáo H2 thừa nhận hành vi phạm tội của H2 như bản Cáo trạng đã mô tả và xin giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa của bị cáo và bị cáo Hợp đồng ý với tội danh, điều luật như đại diện Viện kiểm sát đề nghị với HĐXX để áp dụng đối với bị cáo và đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo ở mức từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Do bị cáo thuộc hộ gia đình nghèo, nên đề nghị miễn toàn bộ án phí cho bị cáo H2.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo H2 phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo H2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải trả lại cho bà B, ông T1 số tiền 10.800.000đ; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu cho tiêu huỷ 01 mũi tua-vít bằng kim loại màu đen loại 4 cạnh, một đầu không có cán; 01 ốc vít bằng kim loại sáng màu, dài 01cm, một đầu nhọn; tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A94 màu đen, đã qua sử dụng; đề nghị miễn nộp tiền án phí đối với bị cáo, do thuộc trường hợp hộ nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình giải quyết vụ án bị hại, người làm chứng có quan điểm giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án và đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người nói trên không gây trở ngại khách quan cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX xét xử vụ án vắng mặt những người nói trên.
[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Danh H2 có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo H2 tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng khác và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2024 đến ngày 13/6/2024, tại phòng khách nhà ở của vợ chồng bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Huy T1 thuộc địa phận thôn V, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương, H2 lợi dụng sự sơ hở, lén lút đã ba lần thực hiện hành vi chiếm đoạt của bà B, ông T1 với số tiền từng lần là 1.000.000đ; 2.200.000₫ và 7.600.000đ; tổng số tiền H2 chiếm đoạt là 10.800.000đ. Vì vậy, hành vi nói trên của H2 đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo H2 về tội Trộm cắp tài sản, là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo H2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong khi đó bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi, muốn có tiền chi tiêu cá nhân nhưng lại không chịu lao động chân chính, nên bị cáo H2 đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xác định: Bị cáo H2 đã ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà B, ông T1, trong đó có 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với số tiền đều trên 2.000.000đ, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Phạm tội 02 lần trở lên, như theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tự đầu thú khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Người bào chữa của bị cáo Hợp đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, xử phạt H2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Sau khi xem xét, HĐXX thấy rằng, mặc dù bị cáo phạm tội lần đầu, nhưng đã ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, trong đó có 02 lần đều trên 2.000.000đ; tài sản chiếm đoạt ngay tại nơi làm việc của bị cáo, vì vậy không có căn cứ chấp nhận cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, như đề nghị của Người bào chữa của bị cáo H2, đồng thời cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo H2 là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định và thuộc hộ nghèo, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo H2 chiếm đoạt của bà B, ông T1 với tổng số tiền 10.800.000đ, đến nay H2 chưa trả lại. Nay, bị hại yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền nói trên, nên H2 phải có nghĩa vụ trả lại cho bà B, ông T1 số tiền 10.800.000đ, như theo quy định tại Điều 46; 47; 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 và Điều 357, 468, của Bộ luật Dân sự.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Xét 01 mũi tua-vít bằng kim loại màu đen loại 4 cạnh, một đầu không có cán; 01 ốc vít bằng kim loại sáng màu, dài 01cm, một đầu nhọn là công cụ bị cáo H2 sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà B, ông T1, anh D xác định giá trị sử dụng không đáng kể, không yêu cầu hoàn trả, nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại OPPO A94 là tài sản của H2 sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu, sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc ví da, màu đen, không nhãn hiệu, đã cũ, hiện không thu hồi được, đồng thời bị hại không yêu cầu bị cáo phải trả lại hoặc bồi thường, nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.
[7]. Về án phí: Xét bị cáo H2 là người thuộc hộ nghèo, nên HĐXX xem xét miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm như theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Danh H2.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh H2 phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh H2 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 và Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Danh H2 phải có nghĩa vụ trả lại số tiền 10.800.000đ cho ông Nguyễn Huy T1, bà Nguyễn Thị B.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01 mũi tua-vít bằng kim loại màu đen, loại 4 cạnh, một đầu không có cán; 01 ốc vít bằng kim loại sáng màu, dài 01cm, một đầu nhọn. Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại OPPO A94 màu đen đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, xước mặt sau, không kiểm tra được chất lượng máy móc bên trong.
Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, ghi ngày 12/8/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Danh H2 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Danh Hợp phạm tội Trộm cắp tài sản
