Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại;

Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nhơn;

Ông Phạm Bá Lân;

Ông Bùi Trưng .

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 148/TB-TA ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn Â, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: thợ sắt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh T (đã chết) và con bà: Phạm Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/7/2024, đang giam và có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Trọng V: Luật sư Nguyễn Thanh K – Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: hẻm C B, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Phạm Viết H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1964 (mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: thôn Â, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Tấn V1, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn Â, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Nguyễn Đình H2, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 08/3/2023, anh Phạm Viết H1 và Nguyễn Đình H2 cùng trú tại thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi rủ nhau nhậu tại bờ kè đường H (gần nhà anh Phạm Viết H1). Đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Tấn V1 (em ruột của bị cáo V và ở cùng nhà) đến cùng tham gia ăn nhậu với anh H1 và anh H2. Cũng trong khoảng thời gian này, bị cáo Nguyễn Trọng V cũng đang nhậu tại nhà. Sau khi cùng ăn nhậu với anh H1 và anh H2 được khoảng 30 phút thì anh Nguyễn Tấn V1 đi về nhà ở thôn Â, xã T, thành phố Q, còn lại anh Phạm Viết H1 và anh Nguyễn Đình H2 tiếp tục ngồi nhậu. Khi về đến nhà thì anh V1 thấy bị cáo Nguyễn Trọng V đã đi ngủ. Một lát sau, anh Nguyễn Đình H2 chở anh Phạm Viết H1 đến nhà của anh Nguyễn Tấn V1 để rủ anh V1 tiếp tục đi nhậu. Anh Nguyễn Đình H2 và Phạm Viết H1 đứng trên đường phía trước cổng nhà của anh V1 nói chuyện. Lúc này, bị cáo Nguyễn Trọng V đang ngủ trong nhà nghe tiếng nói ồn ào nên đi ra sân nói “Bọn bây đến phá nhà tao hả”, anh Phạm Viết H1 nói lại “Mày không biết tao nể”, thì bị cáo V nói “Tao không biết ai hết” rồi bị cáo V quay vào trong nhà, đi xuống nhà bếp lấy 01 (một) con dao có đặc điểm: dài 31,2 cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20,2 cm, chỗ rộng nhất 5,3 cm, dày 0,1 cm, một mặt cắt, cán bằng nhựa màu xanh dài 11 cm, rộng (phần đuôi cán dao) 3,5 cm, dày 1,5 cm, có in chữ “LÀNG NGHỀ” ở trên bệ bếp nấu ăn rồi quay lại ra trước sân. Lúc này, anh Nguyễn Đình H2 thấy bị cáo V cầm dao từ trong nhà chạy ra thì anh H2 điều khiển xe máy bỏ chạy. Anh Phạm Viết H1 thấy anh H2 đột nhiên bỏ chạy, chưa kịp phản ứng nên vẫn đứng tại đó thì bị cáo Nguyễn Trọng V tiến đến gần vị trí của anh H1 đang đứng. Bị cáo V đứng đối diện phía bên trái của anh H1 và dùng tay trái cầm dao chém hai phát từ trên xuống một phát trúng vào vùng trán bên trái, một phát trúng vào vùng đỉnh phải của anh Phạm Viết H1, khi anh H1 dùng tay trái ôm giữ vết thương vùng trán, thì bị cáo V chém tiếp một nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng ngực trái của anh H1, bị đau nên anh H1 ngồi khuỵu xuống đất. Sau đó, bị cáo Nguyễn Trọng V cầm dao quay vào trong nhà bếp cất giấu rồi tiếp tục đi ngủ. Anh Phạm Viết H1 được anh Nguyễn Tấn V1 và anh Nguyễn Đình H2 chở đến Trung tâm Y tế huyện S cấp cứu, sau đó được người nhà chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q và Bệnh viện Đ để điều trị.

Tại Kết luận giám định thương tích số: 643/TgT, ngày 14/4/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:

Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định và các xét nghiệm, xác định anh Phạm Viết H1 có tổn thương sau:

  • Sẹo vùng đỉnh phải, mép gọn, kích thước nhỏ; tỷ lệ tổn thương cơ thể: 01%.
  • Sẹo vùng trán trái, đang đóng vảy, kích thước lớn; tỷ lệ tổn thương cơ thể: 09%.
  • Sẹo vùng ngực trái, mép gọn, kích thước trung bình; tỷ lệ tổn thương cơ thể: 02%.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ của Phạm Viết H1 tại thời điểm giám định là 12% (mười hai phần trăm). Cơ chế hình thành các tổn thương do vật sắc gây nên; di chứng của các vết thương là các sẹo sau khi đã được điều trị.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Trọng V về tội "Giết người" quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố Nguyễn Trọng V phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng V từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đồng. Bị hại bãi nại về phần dân sự không yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  • 01 (một) con dao, dài 31,2 cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20,2 cm, chỗ rộng nhất 5,3 cm, dày 0,1 cm, một mặt cắt, mũi dao bị gãy khuyết, trên bề mặt có bám dính chất lạ; cán bằng nhựa màu xanh dài 11 cm, rộng (phần đuôi cán dao) 3,5 cm, dày 1,5 cm, có in chữ “LÀNG NGHỀ”, đuôi cán dao bị khuyết một phần. Con dao dán kín bằng giấy, bên ngoài có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
  • Mẫu chất màu nâu đỏ (thu trên bông y tế) ghi thu tại hiện trường còn lại sau giám định, đựng trong một phong bì dán kín, bên ngoài có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
  • 01 (một) cái quần lững màu đen; 01 (một) áo thun màu xám tro, bị rách ở phía trước thân áo.

Lời bào chữa của Luật sư Nguyễn Thanh K bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng V tại phiên tòa:

  • Về tội danh: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Trọng V về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo phạm tội chưa đạt nên đề nghị áp dụng quy định khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét quyết định hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo.

Ngoài ra, khi anh Phạm Viết H1 và anh Nguyễn Đình H2 đến trước nhà bị cáo và có lời nói lớn tiếng, gây ồn ào, ảnh hưởng đến giấc ngủ của bị cáo. Trong lúc có men bia, rượu do đã uống say và vừa ngủ tỉnh giấc ngủ, tâm trạng bức xúc, không làm chủ được hành vi nên đã không kìm chế được bản thân. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cần quan tâm đến tình tiết này để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  • Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất lời bào chữa của người bào chữa. Ngoài ra, bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì thêm.

Ý kiến của bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.3] Tại phiên tòa, bị hại Phạm Viết H1 và người làm chứng Nguyễn Tấn H3 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những này.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố và được tóm tắt như nội dung vụ án nêu trên. Bị cáo thống nhất với các bản kết luận giám định. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác và các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 08/3/2023, anh Phạm Viết H1 và anh Nguyễn Đình H2 có đến nhà mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Trọng V tại thôn Â, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi để rủ em trai của bị cáo là anh Nguyễn Tấn V1 tiếp tục đi nhậu. Trong lúc đứng đợi anh V1 trước cổng nhà thì hai anh có nói chuyện lớn tiếng. Bị cáo V cho rằng, anh Phạm Viết H1 và anh Nguyễn Đình H2 gây ồn ào ảnh hưởng đến giấc ngủ của bị cáo nên có nhắc khéo anh H1, anh H2 “Bọn bây phá nhà tao hả” thì anh H1 và bị cáo có nói qua lại nhưng chưa có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, bị cáo liền quay vào trong nhà, đi xuống bếp lấy một con dao rồi tiến đến gần vị trí anh Phạm Viết H1 đang đứng. Bị cáo V đứng đối diện bên trái của anh H1 và dùng tay trái cầm dao chém hai nhát từ trên xuống trúng vào cùng trán bên trái, vùng đỉnh phải của anh Phạm Viết H1. Bị chém chảy máu nên anh H1 ôm giữ vết thương vùng trán thì bị cáo V tiếp tục chém một nhát từ trên xuống, từ phải qua trái trúng vào ngực trái của anh H1. Hậu quả làm cho anh Phạm Viết H1 bị thương tích tại vùng đỉnh phải, vùng trán trái và vùng ngực trái, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo Nguyễn Trọng V với bị hại Phạm Viết H1 có quen biết nhau và không có mâu thuẫn gì từ trước; chỉ xuất phát từ chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống, lẽ ra bị cáo nên nhắc nhở anh H1, anh H2 nhưng bị cáo không xử sự đúng mực mà liền vào nhà bếp lấy hung khí nguy hiểm là một con dao, tiến đến dùng tay trái cầm dao chém nhiều nhát vào nhiều vùng trọng yếu trên cơ thể là đỉnh phải, trán trái và ngực trái của anh Phạm Viết H1. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao chém vào các vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại là có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng cho anh H1 và có thể dẫn đến chết người nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hậu quả chết người chưa xảy ra, anh H1 chỉ bị thương tích 12% là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo không những mang tính chất côn đồ mà còn rất xem thường pháp luật, cố ý xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.

Hành vi của bị cáo như trên đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trọng V là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.3] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[2.3.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, đã tác động gia đình bồi thường xong thiệt hại cho bị hại; được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2.3.3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[2.4] Về xem xét quyết định hình phạt: Xét thấy, hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm hại đến sức khỏe, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của anh H1, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, hậu quả chết người chưa xảy ra đối với bị hại nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, Hội đồng xét xử áp dụng quy định khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét quyết định hình phạt tù cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng, tính nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị H (mẹ đẻ của bị cáo) đã bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đồng. Bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Phạm Thị H không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 30.000.000đồng mà bà đã bồi thường thay cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

[4.1] Tịch thu, tiêu hủy công cụ do Nguyễn Trọng V trực tiếp sử dụng vào việc phạm tội là: 01 (một) con dao, dài 31,2 cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20,2 cm, chỗ rộng nhất 5,3 cm, dày 0,1 cm, một mặt cắt, mũi dao bị gãy khuyết, trên bề mặt có bám dính chất lạ; cán bằng nhựa màu xanh dài 11 cm, rộng (phần đuôi cán dao) 3,5 cm, dày 1,5 cm, có in chữ “LÀNG NGHỀ”, đuôi cán dao bị khuyết một phần.

[4.2] Tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: Mẫu chất màu nâu đỏ (thu trên bông y tế) ghi thu tại hiện trường còn lại sau giám định; 01 (một) cái quần lững màu đen và 01 (một) áo thun màu xám tro, bị rách ở phía trước thân áo.

[5] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Xét ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Trọng V là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng V phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Trọng V 05 (năm) năm tù (năm năm tù), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04 tháng 7 năm 2024).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng, đồ vật sau đây:

  • 01 (một) con dao, dài 31,2 cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 20,2 cm, chỗ rộng nhất 5,3 cm, dày 0,1 cm, một mặt cắt, mũi dao bị gãy khuyết, trên bề mặt có bám dính chất lạ; cán bằng nhựa màu xanh dài 11 cm, rộng (phần đuôi cán dao) 3,5 cm, dày 1,5 cm, có in chữ “LÀNG NGHỀ”, đuôi cán dao bị khuyết một phần. Con dao dán kín bằng giấy, bên ngoài có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
  • Mẫu chất màu nâu đỏ (thu trên bông y tế) ghi thu tại hiện trường (còn hoàn lại sau giám định); đựng trong một phong bì dán kín, bên ngoài có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
  • 01 (một) cái quần lững màu đen; 01 (một) áo thun màu xám tro, bị rách ở phía trước thân áo.

(Các vật chứng, đồ vật trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/6/2024 giữa Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 10/7/2024).

Riêng bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi,
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Quảng Ngãi,
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi,
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Lê Quang Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về giết người (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger