Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 -7-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Đăng Tuấn và ông Dương Thế Hà.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Thị Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 33/2024/TB-TA ngày 25/6/2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Quách Thị V, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 01/12/2006; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – Chị Quách Thị V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện T vào ngày 14/7/2006. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian gần đây hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Do bất đồng về quan điểm lối sống và không còn sự yêu thương nhường nhịn lẫn nhau. Từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị V và anh T đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị V, anh T không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: Chị Quách Thị V và anh Nguyễn Ngọc T có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 01/12/2006. Khi ly hôn chị V có nguyện được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Chị V không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2] Thể hiện tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án anh Nguyễn Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị V tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện T vào ngày 14/7/2006. Sau khi kết hôn anh T và chị V chung sống hạnh phúc với nhau. Sau đó, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh T cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn chỉ là chuyện nhỏ trong gia đình chưa đến mức vợ chồng phải ly hôn với nhau. Từ năm 2022 chị V đi làm Công ty tại tỉnh Đồng Nai thỉnh thoảng có về thăm nhà và gia đình. Anh T vẫn còn quan tâm đến chị V. Anh T đã nhiều lần liên hệ tác động chị V quay về chung sống lại với nhau nhưng chị V không đồng ý. Hiện nay anh T vẫn còn tình cảm với chị V nên anh T không đồng ý hôn.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh T, chị V có 01 người con tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 01/12/2006. Khi ly hôn anh T đề nghị Tòa án giao người con chung cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên và anh T không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Anh T làm thợ cưa công việc ổn định, thu nhập của anh T 01 tháng khoảng 10.000.000đ. Ngoài công việc trên thì anh T cũng đi làm mướn thu nhập khoảng 400.000đ/ngày. Nếu Tòa án giao con cho anh T nuôi dưỡng thì anh T cũng có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi con thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Văn T2 trình bày:

Hiện nay cháu Nguyễn Văn T2 đang chung sống cùng với chị Quách Thị V tại Đồng Nai, nếu ba mẹ ly hôn thì cháu T2 có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với chị V.

[4]. Những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

- Chị Quách Thị V cung cấp các tài liệu chứng cứ gồm: 01 giấy chứng nhận kết hôn; 01 bản sao căn cước công dân; 01 bản sao giấy khai sinh.

- Anh Nguyễn Ngọc T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh về tình trạng quan hệ hôn nhân của anh T và chị V.

[4].Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tuân thủ theo đúng quy định của BLTTDS.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng:

  • Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 146, 147, 203, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Quách Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

Về án phí: Chị Quách Thị V phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm (đã nộp).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn chị Quách Thị V yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con. Ngoài ra, các đương sự đều không có yêu cầu nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Cho nên, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Thể hiện trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Quách Thị V và anh Nguyễn Ngọc T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 030/2006, ngày 14/7/2006. Do vợ chồng không có sự tin tưởng nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mặc dù, anh T vẫn còn tình cảm với chị V và nhiều lần liên hệ tác động chị V quay về chung sống lại với nhau, nhưng do chị V không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Xét thấy: Do mâu thuẫn trong quan điểm sống nên chị V và anh T không còn sự tin tưởng với nhau. Từ đó, cuộc sống vợ chồng anh T và chị V không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Mặc dù, anh T nhiều lần tác động chị V quay về chung sống lại với nhau, nhưng chị V đều không chấp nhận. Thể hiện trong các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chị V đều xác định không còn tình cảm với anh T nên không còn mong muốn tiếp tục chung sống với nhau nữa. Điều đó, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng của anh T và chị V đã nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Chị Quách Thị V và anh Nguyễn Ngọc T có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 01/12/2006. Chị V yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 cho đến khi thành niên.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024 thể hiện cháu Nguyễn Ngọc T1 có nguyện vọng được sống với chị V.

Tại phiên tòa anh T đồng ý giao cháu Nguyễn Ngọc T1 cho chị V được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên và anh T không cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị V.

Xét thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, chị V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1. Khi ly hôn chị V có nguyện vọng được nuôi con cho đến khi thành niên. Cháu T1 cũng có nguyện vọng được sống với chị V và tại phiên tòa anh T cũng đồng ý giao cháu T1 cho chị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, cần tiếp tục giao con chung là Nguyễn Ngọc T1 cho chị V được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên là phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị V.

    - Chị Quách Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.

  2. Về con chung: Giao cho chị Quách Thị V được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 01/12/2006 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

    Anh Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Quách Thị V; nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; không ai được quyền ngăn cản.

    Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

  3. Về án phí: Chị Quách Thị V phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005904 ngày 03/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Chị Quách Thị V đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 10/7/2024; nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật (đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện Tánh Linh;
  • - UBND xã Suối Kiết, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (thay thông báo);
  • - Lưu: VP, án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Quách Thị V ly hôn Nguyễn Ngọc T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger