trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/DS-ST

Ngày 10 - 5 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Văn Mầm.
  • Ông Trần Hoàng Chiến.

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-DS, ngày 10 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Văn Thị K, sinh năm 1983 (có mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thu N, sinh năm 1965 (vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1957 (vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2024 và các lời khai tại Tòa án bà Văn Thị K (Nguyên đơn) trình bày: Ngày 09/01/2021 âm lịch bà N có vay của bà số tiền là 40.000.000 đồng. Tiếp đến ngày 29/02/2022 âm lịch vay số tiền là 20.000.000 đồng, tổng cộng là 60.000.000 đồng, có làm biên nhận nợ. Khi vay tiền thì bà N đi vay chứ không đi cùng ông Q. Bà có yêu cầu nhiều lần nhưng bà N không thực hiện việc trả nợ. Nay bà yêu cầu bà N và ông Q trả số tiền vay vốn là 60.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thu N (Bị đơn) trình bày: Trước đây, bà có vay tiền ngày của bà K nhiều lần, trả tiền góp hàng ngày nên sau đó hai bên kết nợ đến ngày 09/01/2021 âm lịch thì bà có ký biên nhận nợ vay của bà K số tiền là 40.000.000 đồng. Đến ngày 29/02/2022 âm lịch có ký biên nhận vay số tiền là 20.000.000 đồng, nhưng sau đó đã trả xong, cụ thể là cộng dồn lại thành biên nhận nợ ngày 09/01/2021 âm lịch số tiền là 40.000.000 đồng và từ khi vay đến nay không có đóng lãi. Hai biên nhận nợ ngày 09/01/2021 âm lịch và ngày 29/02/2022 âm lịch thì bà thừa nhận có ký tên nên không yêu cầu giám định chữ viết và chữ ký. Việc bà vay tiền của bà K để làm ăn buôn bán trong gia đình, khi vay thì ông Q không biết. Sau khi không có khả năng trả nợ thì ông Q mới biết và có yêu cầu bà K vào nhà để trả nợ cho bà K. Đối với ông Q là chồng bà không liên quan nên bà tự trả không yêu cầu ông Q liên đới trả nợ.

Nay bà đồng ý trả cho bà K số tiền vay vốn là 40.000.000 đồng và không đồng ý trả lãi suất theo quy định pháp luật. Đối với số tiền vay là 20.000.000 đồng theo biên nhận vay ngày 29/02/2022 âm lịch thì đã cộng dồn vào biên nhận vay ngày 09/01/2021 âm lịch số tiền là 40.000.000 đồng nên không đồng ý trả số tiền là 20.000.000 đồng.

Tại biên bản làm việc ngày 13/3/2024, ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ông là chồng của bà N, đối với yêu cầu khởi kiện của bà K thì ông không đồng ý, vì giữa bà K và bà N có giao dịch vay tiền với nhau hay không thì ông không biết nên không đồng ý trả tiền cho bà K. Do ông không có liên quan nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông. Trường hợp, nếu Tòa án buộc ông trả nợ thì ông xin miễn án phí do thuộc người cao tuổi.

Tại phiên tòa:

Bà K vẫn bảo lưu quan điểm đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Văn Thị Kiều. Buộc bà Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Văn Q phải có nghĩa vụ trả cho bà Văn Thị K số tiền vốn là 60.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Nguyễn Thu N tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà N vắng mặt không lý do; ông Nguyễn Văn Q có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Văn Thị K với bị đơn bà Nguyễn Thu N là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Nguyễn Thu N có địa chỉ cư trú tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bà Văn Thị K yêu cầu bà Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Văn Q trả lại cho bà K số tiền vay vốn là 60.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật. Đối với yêu cầu cầu khởi kiện của bà K thì bà N chỉ đồng ý trả số tiền vốn 40.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi, phía ông Q không đồng ý với yêu cầu của bà N.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bà K và bà N thống nhất ngày 09/01/2021 âm lịch bà N có làm biên nhận vay của bà K số tiền vốn 40.000.000 đồng và ngày 29/02/2022 âm lịch làm biên nhận vay số tiền vốn 20.000.000 đồng. Bà N xác định chữ viết, chữ ký tại các biên nhận nợ là do bà ký tên nên không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký. Đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Hiện bà N chỉ đồng ý trả cho bà K số tiền vốn vay là 40.000.000 đồng và không đồng ý trả tiền lãi suất theo quy định pháp luật. Đối với số tiền vốn vay 20.000.000 đồng theo biên nhận vay ngày 29/02/2022 âm lịch thì đã cộng dồn vào biên nhận vay ngày 09/01/2021 âm lịch số tiền là 40.000.000 đồng nên không đồng ý trả. Nhận thấy, bà N cho rằng biên nhận vay số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 29/02/2022 âm lịch thì đã cộng dồn vào biên nhận vay ngày 09/01/2021 âm lịch số tiền là 40.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận, do biên nhận ngày 09/01/2021 âm lịch số tiền là 40.000.000 đồng được xác lập trước biên nhận nợ ngày 29/02/2022 âm lịch số tiền là 20.000.000 đồng. Phía bà K có cung cấp 02 biên nhận nợ ngày 09/01/2021 âm lịch số tiền là 40.000.000 đồng và ngày 29/02/2022 âm lịch số tiền là 20.000.000 đồng, bà N thừa nhận có ký tên. Do đó, sự việc bà N có vay của bà K vào ngày 09/01/2021 âm lịch số tiền là 40.000.000 đồng và ngày 29/02/2022 âm lịch số tiền là 20.000.000 đồng và có viết biên nhận nợ là thực tế có xảy ra. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà K về việc yêu cầu bà bà N trả số tiền vốn vay 60.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận. Đối với ông Q không thừa nhận có vay tiền của bà K nên không đồng ý trả, tuy nhiên quan hệ hôn nhân của bà N và ông Q vẫn đang tồn tại, bà N thừa nhận ông Q có biết việc bà N thiếu tiền bà K, có nói bà K vào nhà để thỏa thuận trả nợ cho bà K và bà N cũng thừa nhận việc bà N vay tiền của bà K để làm ăn buôn bán trong gia đình, nhằm phục vụ cuộc sống gia đình. Vì vậy, cần

buộc bà N và ông Q phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà K tổng số tiền vay vốn là 60.000.000 đồng.

Đối với số tiền lãi bà K cho rằng từ khi bà N vay đến nay không có đóng lãi, được bà N thừa nhận, bà K yêu cầu tính theo quy định pháp luật. Xét thấy, tại hai biên nhận ngày 09/01/2021 âm lịch và ngày 29/02/2022 âm lịch đều không thỏa thuận lãi suất, do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự được áp dụng mức lãi suất 10%/năm. Cụ thể: Đối với khoản vay 40.000.000 đồng, từ ngày viết biên nhận 09/01/2021 âm lịch đến ngày xét xử sơ thẩm là 03 năm 02 tháng 20 ngày và khoản vay 20.000.000 đồng, từ ngày viết biên nhận 29/02/2022 âm lịch đến ngày xét xử sơ thẩm là 02 năm 01 tháng 10 ngày. Do đó, số tiền lãi là:

Số tiền vốn 40.000.000 đồng x 03 năm 02 tháng 20 ngày x 10%/năm = 12.889.000 đồng.

Số tiền vốn 20.000.000 đồng x 02 năm 01 tháng 10 ngày x 10%/năm = 4.222.000 đồng.

Vì vậy, tổng số tiền lãi buộc bà N và ông Q trả cho bà K là 17.111.000 đồng nên có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà K. Buộc bà N và ông Q trả lại cho bà K số tiền vốn là 60.000.000 đồng và tiền lãi là 17.111.000 đồng, tổng số tiền vốn và lãi là 77.111.000 đồng. Ngoài ra, bà N và ông Q còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với khoản tiền phải thanh toán nếu chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

[4] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà N và ông Q phải chịu 5% án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho bà K, cụ thể: 77.111.000 đồng x 5% = 3.856.000 đồng (làm tròn). Bà N và ông Q mỗi người phải chịu ½ với số tiền 1.928.000 đồng, do ông Q là người cao tuổi nên không phải nộp tiền án phí.

Bà K không phải chịu án phí, số tiền đã dự nộp được nhận lại.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các điều 26, 35, 39, 147, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Văn Thị Kiều.

[1] Về nội dung: Buộc bà Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Văn Q phải có nghĩa vụ trả cho bà Văn Thị K tổng số tiền 77.111.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu một trăm mười một nghìn đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[2] Về án phí:

Bà Nguyễn Thu N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.928.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà Văn Thị K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà K số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.500.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0012763 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Văn Thị K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Văn Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Trúc Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 62/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Văn Thị K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger