Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-9-2024.

V/v ly hôn, tranh chấp

nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Khel
  2. Ông Dư Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 438/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hoàng O, sinh năm 1979 (có mặt)
  • Địa chỉ: Số A, Tỉnh lộ 932, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn T (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số A, đường N, Khóm E, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Hoàng O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hoàng O và ông Trần Văn T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 05/3/2003. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, ông T có hành vi bạo lực gia đình. Từ năm 2021 đến nay, bà O và ông T không còn sống chung như vợ chồng. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà O yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Trần Thị Hoàng O và ông Trần Văn T có một (03) con chung tên Trần Văn L (nam) sinh ngày 14-06-2006, Trần Thị Thanh T1 (nữ) sinh ngày 08-03-2004 và Trần Văn T2 (nam) sinh ngày 01-01-2009.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay bà Trần Thị Hoàng O yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Sau khi ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Văn T2 (nam) sinh ngày 01-01-2009. Không yêu cầu ông Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung tên Trần Văn L (nam) sinh ngày 14-06-2006 và Trần Thị Thanh T1 (nữ) sinh ngày 08-03-2004, hiện nay đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Nên không yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn là ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Đối với bị đơn ông Trần Văn T đã không chấp hành việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Trần Văn T. Tòa án triệu tập hợp lệ ông Trần Văn T để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng vắng mặt không lý do đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T. Thấy rằng: Bà Trần Thị Hoàng O và ông Trần Văn T tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ngày 05/3/2003. Nên hôn nhân giữa bà O và ông T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T đến làm việc và hòa giải nhưng Ông không đến cũng như không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ ông T không thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy, những mâu thuẫn trên thể hiện được tình trạng hôn nhân của bà O và ông T đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được. Từ năm 2021 đến nay, ông bà không còn sống chung với nhau như vợ chồng, thể hiện được cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà O.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Hoàng O. Thấy rằng, cháu Trần Văn T2 (nam) sinh ngày 01-01-2009 hiện nay đang sinh sống ổn định với bà O và theo trình bày của cháu T2 thì trường hợp cha và mẹ của cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống chung cùng với mẹ là bà O. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của cháu T2, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T. Sau khi ly hôn, bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Văn T2.

Đối với con chung tên Trần Văn L (nam) sinh ngày 14-06-2006 và Trần Thị Thanh T1 (nữ) sinh ngày 08-03-2004, hiện nay đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Cháu Trần Văn T2 đang sống cùng bà O, hiện nay cuộc sống ổn định, sức khỏe tốt, học hành bình thường. Bà Trần Thị Hoàng O có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu T2 và bà O cũng không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Trần Văn T2, giới tính: Nam, sinh ngày 01-01-2009 không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà Trần Thị Hoàng O trình bày trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông Trần Văn T không có tạo lập tài sản chung cũng như không có nợ chung, cho nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Trần Thị Hoàng O phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ: Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hoàng O, sinh năm 1979 được ly hôn với ông Trần Văn T, sinh năm 1970.
  2. Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Trần Thị Hoàng O được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Văn T2, giới tính: Nam, sinh ngày 01-01-2009. Ông Trần Văn T không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Trần Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Trần Văn T2 không ai được cản trở.

Đối với con chung tên Trần Văn L (nam) sinh ngày 14-06-2006 và Trần Thị Thanh T1 (nữ) sinh ngày 08-03-2004, hiện nay đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Hoàng O phải chịu án phí về ly hôn số tiền 300.000 đồng; Sau khi cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001384 ngày 27/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, bà O đã nộp xong án phí.
  3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSNDTP Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - UBND phường 7, TPST;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Phước Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tc nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger