Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/7/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Lê Văn Hướng.

-Thư ký phiên toà: Ông Lê Đình Tứ, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà:

Ông Trần Quốc Đại, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2024; Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐST- HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, thông báo chuyển ngày xét xử số 212/TB-TA ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hoài M, sinh năm: 1999; địa chỉ: Số B kiệt C N, tổ dân phố U, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Tấn V, sinh năm 1995; địa chỉ: Số B N, tổ dân phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Phan Thị Hoài M đều trình bày:

Chị và anh Hoàng Tấn V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H vào ngày 26/10/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian rất ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh V đánh đập và có lời lẽ đe dọa chị nên sau khi sinh con vào cuối tháng 12/2022 thì chị đưa con về nhà mẹ đẻ sinh sống để tiện chăm sóc. Trong thời gian này anh V vẫn tiếp tục gây gổ với chị, không quan tâm gì đến vợ con và tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay không quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện xin ly hôn anh V để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị M khai chị và anh V có 01 con chung là Hoàng Gia H, sinh ngày 02/12/2022, hiện ở với chị nhưng anh V vẫn làm khó chị khi tự ý đưa cháu về nhà và không cho chị gặp mặt con. Chị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị M khai vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị M khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 19/3/2024, bị đơn anh Hoàng Tấn V trình bày: Về quan hệ hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn thì như chị M đã trình bày một phần, còn lại cũng do chị M không quan tâm gì đến anh và gia đình chồng. Sau khi sinh con thì không quay trở về nhà chồng nữa, làm cho mâu thuẫn chồng chất, không kiềm chế được bản thân nên anh đã có lời lẽ xúc phạm và có vài lần đánh đập chị M. Tuy nhiên anh vẫn còn thương yêu vợ con nên nay chị M xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh V xác nhận vợ chồng anh có 01 con chung như chị M đã khai. Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu H và không yêu cầu chị M cấp dưỡng cho con, do hiện tại anh là nhân viên tín dụng tại công ty T, thu nhập mỗi tháng 12.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Anh V khai vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh V khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 23 tháng 5 năm 2024, bà Nguyễn Thị M1 (mẹ của chị Phan Thị Hoài M) trình bày: Vợ chồng anh V chị M sau khi tổ chức cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2022 thì về sinh sống tại nhà bố mẹ anh V. Khi chị M sinh con vào tháng 12/2022 thì về nhà bà sinh sống để tiện chăm sóc. Anh V mỗi lần về thăm con đều gây rối, có hành vi đánh đập và đe dọa vợ. Nay chị M xin ly hôn anh V thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn anh Hoàng Tấn V, xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Gia H, sinh ngày 02/12/2022 và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Tại phiên toà, anh V vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:

[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • - Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phan Thị Hoài M.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Hoài M được ly hôn anh Hoàng Tấn V.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia H, sinh ngày 02/12/2022 cho chị Phan Thị Hoài M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M, anh V không yêu cầu Toà án giải quyết nên Viện kiểm sát không xem xét.

Về án phí: Buộc chị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị Hoài M khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Hoàng Tấn V. Anh V có nơi cư trú tại: B N, tổ dân phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh V đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Hoài M và anh Hoàng Tấn V có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H vào ngày 26/10/2022 (số 02, năm 2022). Như vậy, hôn nhân giữa anh V và chị M là hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Hoài M, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo trình bày của chị M thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh V không quan tâm đến chị, hay bạo lực gia đình, chửi bới chị. Trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2022, không quan tâm gì đến nhau nữa. Anh V cũng xác nhận do bản chất nóng nảy, không kiểm soát được bản thân nên có đánh đập chị M là phù hợp với xác nhận của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phường T, thị xã H: “Quá trình chung sống anh V có hành vi bạo lực gia đình, dùng hung khí nguy hiểm rượt đuổi chị M, Hội phụ nữ đã kết hợp với các tổ chức đoàn thể khác để hòa giải nhưng không được”. Như vậy, có cơ sở xác định lỗi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh V và đời sống chung hiện nay giữa anh V và chị M không tồn tại. Quá trình Tòa án hòa giải, mặc dù phía anh V có nguyện vọng đoàn tụ nhưng không đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa chị M và anh V không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M. Cho chị M được ly hôn với anh V.

[2.3] Về con chung: Chị M và anh V có 01 con chung là Hoàng Gia H, sinh ngày 02/12/2022, hiện đang ở với chị M. Khi ly hôn, chị M và anh V đều yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H.

Nhận thấy, hiện nay chị M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H. Mặt khác, do cháu H đang còn rất nhỏ (1 tuổi 07 tháng 06 ngày), trong độ tuổi cần phải có sự chăm sóc đặc biệt để nuôi dưỡng về sức khỏe, phát triển thể chất và tinh thần; hơn nữa, từ khi cháu sinh ra và đến nay đều được chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, nên việc thay đổi môi trường sống của cháu trong độ tuổi và thời điểm này là chưa phù hợp, dễ làm tổn thương đến tâm lý và sự phát triển bình thường của cháu, do đó, cần giao cháu H cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu H và quy định của pháp luật.

Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, đồng thời có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định pháp luật nếu đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu H.

[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn:

Xét yêu cầu của chị M về việc yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Mặt khác anh V cũng xác nhận có thu nhập bình quân mỗi tháng 12.000.000 đồng là phù hợp với mức cấp dưỡng chị M yêu cầu. Do đó cần buộc anh V phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị M, anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Về án phí:

- Án phí ly hôn: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

- Án phí cấp dưỡng: Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị Phan Thị Hoài M đối với anh Hoàng Tấn V về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Chị Phan Thị Hoài M được ly hôn anh Hoàng Tấn V.

2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia H, sinh ngày 02/12/2022 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Cha, mẹ cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Buộc anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản cấp dưỡng nuôi con) mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M, anh V không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí:

- Chị Phan Thị Hoài M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm gồm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001571 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Chị M đã nộp đủ.

- Anh Hoàng Tấn V phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con gồm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TTHuế;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - Chi cục Thi hành án thị xã Hương Trà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà.
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger