Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07 tháng 9 năm 2024.

“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng, ông Nguyễn Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/TLST- HNGĐ ngày 297 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Hồ Văn Q, sinh năm 1984; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Số nhà C, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà B có mặt, ông Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà và ông Quốc t tìm hiểu yêu thương nhau, quyết định tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện T (nay là phường N, thị xã T), tỉnh An Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 68/2011, quyển số 01, cấp ngày 15/6/2011. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tiếng nói chung, nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, nên bà B khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Q; về con chung: trong thời kỳ hôn nhân có 03 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 19/3/2005 (đã trưởng có khả năng lao động); Hồ Thị Huyền T1, sinh ngày 15/7/2007 và Hồ Quốc Đ, sinh ngày 01/9/2015, hiện cháu T1, cháu Đ đang sống với bà B; bà B yêu cầu được nuôi dạy 02 con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung-nợ chung không yêu cầu tòa án giải quyết;

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xác định thẩm quyền thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông Q mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lí do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đở, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, cả hai xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thừa nhận có xảy ra mâu thuẫn. Hơn nữa qua ghi nhận lời khai con chung (T1) thể hiện bà B, ông Q sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong suốt thời gian sống ly thân, quá trình Tòa án giải quyết cả hai không chủ động hàn gắn. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà B yêu cầu ly hôn với ông Q là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 29/3/2005 (đã trưởng thành, không yêu cầu tòa án xem xét); Hồ Thị Huyền T1, sinh ngày 15/7/2007; Hồ Quốc Đ, sinh ngày 01/9/2015. Hiện Thảo, Đ sống cùng bà B, nên bà B yêu cầu tiếp tục được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Con chung (T1) có nguyện vọng sống cùng bà B, khi cha mẹ ly hôn. Ông Q cũng có ý kiến nếu ly hôn ông đồng ý giao hai con chung (T1, Đ) cho bà B nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống, sinh hoạt con chung việc giao hai con chung cho bà B tiếp tục nuôi dạy là phù hợp quy định pháp luật và nguyện vọng của con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ phân tích trên, Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn Q. Giao hai con chung (T1 – Đ) cho bà B tiếp tục nuôi dạy, ông Q không cấp dưỡng nuôi con chung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  2. Bị đơn, ông Q vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân, bà Nguyễn Thị B và ông Hồ Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện T (nay là phường N, thị xã T), theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 68/2011, quyển số 01, cấp ngày 15/6/2011 nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng;
  2. Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…………”. Tuy nhiên, bà B trình bày do mâu thuẫn, nên khởi kiện ly hôn, ông Q cũng thừa nhận là có mâu thuẫn, ông không đồng ý ly hôn, nhưng không có thiện chí hàn gắn, níu kéo lại tình cảm vợ chồng mà bỏ mặc cả hai mạnh ai nấy sống. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà B khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Q là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  3. Về con chung: Bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Ông Q cũng đồng ý. Xét thấy đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu và điều kiện thuận lợi cho cháu phát triển nên việc giao hai cháu Hồ Thị Huyền T1 và Hồ Quốc Đ cho bà B nuôi dạy là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014.
  4. Xét về về cấp dưỡng:
  5. Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ của cha mẹ. Do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con...;

    Đối chiếu với quy định nêu trên, lẽ ra người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà B vẫn không yêu cầu cấp dưỡng và cho rằng có đủ khả năng nuôi dạy con chung. Xét thấy, việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ khả năng đảm bảo cuộc sống của con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ông Q không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Nếu có tranh chấp cấp dưỡng thì giải quyết trong vụ án khác.

  6. Về tài sản chung và nợ chung: Bà B, ông Q cùng thống nhất khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
  7. Về án phí: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003258 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, bà B đã nộp đủ án phí. Ông Hồ Văn Q không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, Điều 228, và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn ông Hồ Văn Q.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị B được tiếp tục nuôi dạy con chung Hồ Thị Huyền T1, sinh ngày 15/7/2007 và Hồ Quốc Đ, sinh ngày 01/9/2015. Ông Hồ Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Bà Nguyễn Thị B cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Hồ Văn Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  4. Về án phí:
  5. - Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003258 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, bà B đã nộp đủ án phí.

    - Ông Hồ Văn Q không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:
  7. Thời hạn kháng cáo của của bà Nguyễn Thị B là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Riêng thời hạn kháng cáo của ông Hồ Văn Q là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND TP (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Thi hành án DS TP (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger