|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2023/HS-ST
Ngày 06-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nông Ngọc Ánh
Bà Chu Thị Xuyến
Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/TLST - HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 và Thông báo chuyển ngày xét xử số: 317/2023/TB- TA ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Nông Tiến P; Tên gọi khác: Không, Sinh ngày 07/5/1985 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Hoa S, sinh năm 1940 và Con bà: Vũ Thị C, sinh năm 1950; vợ là Mộ Thị H, sinh năm 1985; Con: Có 02 người, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Bị cáo chưa kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 31 tháng 8 năm 2023 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Bà Đỗ Tuyết N, sinh năm 1969. Trú tại: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Văn S1, sinh năm 1990. Trú tại: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/7/2023 Công an huyện T nhận được đơn tố giác của bà Đỗ Tuyết N về việc: Khoảng đầu tháng 12 năm 2018, Nông Tiến P mượn xe mô tô của bà có biển kiểm soát 12K5-1469 đi có việc nhưng đến nay vẫn chưa trả. Sau khi tiếp nhận đơn tố giác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai Nông Tiến P. Kết quả xác minh giải quyết tin báo xét thấy có dấu hiệu tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, bị cáo đối với Nông Tiến P để điều tra làm rõ. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tạm giữ của bà Đỗ Tuyết N: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 027543 mang tên chủ xe Đỗ Tuyết N, biển số đăng ký 12K5 – 1469 do Phòng C1 Công an tỉnh L cấp ngày 18/02/2008.
Ngày 27/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định truy tìm vật chứng là chiếc xe mô tô BKS 12K5 – 1469, tên chủ xe Đỗ Tuyết N, tuy nhiên đến nay vẫn chưa tìm được chiếc xe.
Tại kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 24/7/2023 của Hội Đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Nữ, màu sơn Xám - Bạc – Đen, số khung 9507Y005184, số máy 5B95005184, BKS 12K5 – 1469 (xe đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá tháng 12/2018 có giá trị là 8.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nông Tiến P khai nhận: Khoảng đầu tháng 12 năm 2018, Nông Tiến P đến nhà bà Đỗ Tuyết N hỏi mượn xe mô tô BKS 12K5 - 1469 để đi có việc, xong việc thì sẽ mang về trả thì được bà N đồng ý. Sau khi mượn được xe mô tô, P sử dụng làm phương tiện để đi lại được khoảng 10 ngày, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên P bán chiếc xe mô tô đã mượn của bà N để cho anh Trần Văn S1 Trú tại: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn với giá 8.000.000 đồng, Chiếc xe này anh S1 đã bán lại cho người khác (không rõ tên tuổi địa chỉ), việc mua bán xe không lập thành hợp đồng hay giấy tờ mua bán.
Cáo trạng số: 59/CT-VKSTĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 truy tố bị cáo Nông Tiến P về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bà Đỗ Tuyết N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng là số tiền tương ứng với giá trị chiếc xe máy bị cáo đã chiếm đoạt, tại phiên tòa bị cáo nhất trí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự, Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và Đỗ Tuyết N về việc bồi thường giá trị chiếc xe máy bị chiếm đoạt tương ứng với số tiền là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả cho bà Đỗ Tuyết N 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 027543.
Tại phần tranh luận không ai có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, để sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa hôm nay bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt của Trần Văn S1, Hội đồng xét xử thấy rằng, anh S1 đã có lời khai được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện khi anh Trần Văn S1 mua lại chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 12K5 – 1469 với Nông Tiến P, anh S1 không hề biết đây là tài sản do Nông Tiến P do phạm tội mà có, hiện nay anh S1 đã bán chiếc xe đó cho một người khác (không biết tên tuổi địa chỉ). Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của anh Trần Văn S1 không ảnh hưởng gì đến quá trình giải quyết của vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ Luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định: Khoảng giữa tháng 12 năm 2018, tại Khu B, thị trấn T, huyện T, sau khi mượn được xe mô tô nhãn hiệu JUPITER, Y, loại xe Nữ, màu sơn X – Bạc 1 Đen, BKS 12K5 – 1469 của bà Đỗ Tuyết N thì Nông Tiến P nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên P đã mang chiếc xe đi bán cho người khác được số tiền 8.000.000 đồng để sử dụng chi tiêu cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho bà Đỗ Tuyết N, như vậy Nông Tiến P đã phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong một bộ phận đời sống dân cư trên địa bàn nơi bị cáo cư trú.
[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, do chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị kỷ luật.
[6] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay thể hiện bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bị cáo và bà Đỗ Tuyết N tự nguyện thỏa thuận bồi thường trị giá trị chiếc xe máy bị chiếm đoạt tương ứng với số tiền là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 027543 mang tên chủ xe Đỗ Tuyết N, đây là giấy tờ hợp pháp của bà Đỗ Tuyết N nên trả lại cho bà Đỗ Tuyết N.
[11] Những vấn đề khác với nhận định trên của Hội đồng xét xử, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Cho bị cáo đi cải tạo tập trung để bị cáo nhận thức được hành vi của mình, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời răn đe những ai có ý định phạm tội tương tự.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.
[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự
Căn cứ Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Tiến P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù, tính từ ngày 31 tháng 8 năm 2023.
3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nông Tiến P và bà Đỗ Tuyến N1 về việc bồi thường giá trị chiếc xe 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Nữ, màu sơn Xám – Bạc – Đen, số khung 9507Y005184, số máy 5B95005184, BKS 12K5 – 1469 (xe đã qua sử dụng) tương ứng với số tiền là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo chưa thanh toán được số tiền trên mà bà Đỗ Tuyết N có đơn yêu cầu thi hành án thì bị cáo còn phải chịu lãi xuất chậm trả theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Trả cho bà Đỗ Tuyết N 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 027543 mang tên chủ xe Đỗ Tuyết N.
(Vật chứng nêu trên đang được lưu trữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2023).
5.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng án phí dân sự có giá nghạch. Tổng số tiền án phí bị cáo phải nộp là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Bình |
Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 62/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Tiến P phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
