TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/ HNGĐ - ST Ngày: 06/8/2024 V/v: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
2. Ông Lê Văn Tú
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Minh Phương – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/ 2024/ QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H - Sinh năm 1992 - Có mặt
Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Bá H1 – Sinh năm 1984 – Có mặt
Nơi cư trú: Phố B, Phường Q, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Bá H1 kết hôn với nhau vào năm 2015, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q ( nay là phường Q), thành phố T.
Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2017 đến nay. Quá trình vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hoà giải, động viên, nhưng không có kết quả.
Nay chị Đặng Thị H xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Bá H1.
Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Đặng Tố U – sinh ngày 24/4/2016.
Hiện nay cháu U đang ở cùng với anh H1 từ năm 2017 đến nay. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung, nhưng nếu anh H1 và cháu U không đồng ý cho chị nuôi con thì chị cùng đồng ý giao con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng và chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000₫.
Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản khai bị đơn anh Nguyễn Bá H1 trình bày:
Về hôn nhân: Anh H1 cũng thống nhất anh và chị H kết hôn với nhau vào năm 2015, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q (nay là phường Q), Thành phố T. Sau khi kết hôn anh chị cùng chung sống với nhau tại phường Q, Thành phố T. Quá trình chung sống vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn, chị H đã bỏ nhà đi từ đầu năm 2017 đến nay và vợ chồng cũng ly thân từ đó cho đến nay. Mặc dù do thời gian ly thân đã lâu, nên tình cảm vợ chồng giữa anh với chị H không còn, nhưng anh H1 không đồng ý ly hôn vì anh có nguyện vọng đoàn tụ để con anh có cả bố lẫn mẹ.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Đặng Tố U - sinh ngày 24/4/2016.
Hiện nay cháu U đang ở cùng với anh H1 từ năm 2017 đến nay. Ly hôn, anh H1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ: Anh H1 không yêu cầu tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ và xác minh tại chính quyền địa phương: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Bá H1 trước đây sống tại Phố B, phường Q, Thành phố T, nhưng quá trình chung sống vợ chồng sảy ra mâu thuẫn như thế nào thì chính quyền địa phương không biết vì anh chị không báo cáo. Đến khoảng năm 2017 thì chị H đi khỏi địa phương không sống tại Phố B, phường Q nữa, nhưng đi đâu thì chị H không báo cáo. Nay chị H yêu cầu xin ly hôn với anh H1 thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện VKS:
Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý đến quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện VKS đề nghị HĐXX:
Áp dụng:
Điều 56, 81, 82, và 83 của Luật HNGĐ. Khoản 4 Điều 147; Điểm a Khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự và NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá H1.
Về con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Bá H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Đặng Tố U – sinh ngày 24/ 4/ 2016.
Ly hôn, giao cho anh Nguyễn Bá H1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi xét xử cho đến khi cháu Nguyễn Đặng Tố U thành niên.
Chị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét;
Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thành phố T, là thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Anh H1 và chị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống, nên sảy ra mâu thuẫn và anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H có đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1. Tuy quá trình hoà giải tại Toà án, anh H1 xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, nhưng anh vẫn có nguyện vọng được đoàn tụ để cùng nuôi con, nhưng chị H đề nghị Tòa án không tiếp tục hòa giải nữa và cương quyết xin ly hôn vì chị xét thấy giữa chị với anh H1 đã ly thân nhau từ nhiều năm nay, không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, nên tình cảm vợ chồng thực sự không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục.
Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá H1.
[3] Về con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Bá H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Đặng Tố U – sinh ngày 24/4/2016.
Hiện nay cháu U đang ở với anh H1. Ly hôn, anh H1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung..
Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của anh H1 là phù hợp với nguyện vọng của cháu U nên chấp nhận.
Đối với yêu cầu tiền cấp dưỡng tiền nuôi con: Hiện nay chị H và anh H1 đều làm nghề Lao động tự do, thu nhập mỗi tháng từ khoảng 7.000.000₫ đến 8.000.000đ. Do đó để đảm bảo cuộc sống cho cháu U thì cần buộc chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1 mỗi tháng 2.000.000₫ là phù hợp với điều kiện thực tế.
HĐXX căn cứ vào Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 2 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giao cho anh Nguyễn Bá H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đặng Tố U – sinh ngày 24/4/2016. Chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh H1 mỗi tháng 2.000.000đ. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8 năm 2024 đến khi cháu Nguyễn Đặng Tố U thành niên.
Chị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;
[4] Về tài sản, công nợ: Anh Nguyễn Bá H1, chị Đặng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a Khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a Khoản 5, Đ a Khoản 6 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Xử:
1.Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá H1.
2. Về nuôi con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Bá H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Đặng Tố U – sinh ngày 24/4/2016.
Ly hôn, giao cho anh Nguyễn Bá H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đặng Tố U. Chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi cháu Nguyễn Đặng Tố U thành niên.
Chị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản, công nợ: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Bá H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí về cấp dưỡng định kỳ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0001635 ngày 17/6/2024 của Chi cục THADS thành phố T . Số tiền án phí còn lại chị Đặng Thị H phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị H, Nguyễn Bá H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
Bản án số 62/2024/ HNGĐ - ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 62/2024/ HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án H + H
