Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/8/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

Bà Đỗ Thị Hoài Mơ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999

HKTT: Thôn V, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1991

HKTT: Thôn V, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T7, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 12/4/2024, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn trình bày:

Về tình cảm vợ chồng: Ngày 02/01/2018, tôi và anh Nguyễn Trọng T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn chúng tôi được tự do tìm hiểu và cùng thống nhất đi đến việc kết hôn. Sau khi kết hôn tôi về nhà anh T1 ở cùng gia đình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc cùng nuôi dạy con và làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Nhưng sau đó từ khoảng tháng 6/2022 vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung hay xảy ra cãi vã, to tiếng với nhau, anh T1 hay chơi bời lêu lổng, rượu chè... không quan tâm đến vợ, con. Giữa chị T và anh T1 đã ly thân nhau từ lâu, đến nay vợ chồng không quan tâm và không có trách nhiệm gì với nhau, không liên lạc gì với nhau và đã chấm dứt hoàn toàn mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình có động viên đoàn tụ nhưng không có kết quả. Hiện nay anh T1 đang đi chấp hành án phạt tù tại trại giam T7, tỉnh Thanh Hóa (về tội Tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy, án phạt 7 năm 6 tháng tù).

Nay vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T1.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 người con chung là Nguyễn Cẩm T2, sinh ngày 10/4/2019 và cháu Nguyễn Trọng Hoàng T3, sinh ngày 02/02/2021. Hiện tại hai con đang ở cùng chị T, do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T có công việc hiện tại công ty H tại Khu công nghiệp V - V - Bắc Giang, mức lương là 8.000.000-9.000.000 đồng/tháng. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con.

Cấp dưỡng nuôi con: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Trọng T1 trình bày: Do anh T1 đang chấp hành án tại Trại giam T7, tỉnh Thanh Hóa, Tòa án đã ủy thác tống đạt lấy lời khai và tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T1 theo đúng quy định pháp luật. Anh T1 có bản tự khai thống nhất với chị T về điều kiện kết hôn, con chung. Mẫu thuẫn vợ chồng do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, đã trầm trọng, nay chị T đề nghị ly hôn thì anh đồng ý ly hôn. Anh đồng ý cho chị T được nuôi dưỡng hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Anh T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa (BL 48, 49).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015, Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị T được ly hôn anh T1.

Về con chung: Giao cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu T2, sinh năm 2019 và cháu T3, sinh năm 2021.

Về tài sản chung, công nợ chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị T có đơn đề nghị giải quyết về ly hôn và con chung với anh T1 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn là anh T1 có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh T1 là bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh T1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS, hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T1.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T kết hôn với anh T1 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 02 tháng 01 năm 2018, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn theo các đương sự trình bày do hai bên hay xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đã ly thân một thời gian, hiện anh T1 đang đi chấp hành án tại Trại giam T7, Thanh Hóa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa anh và chị T đến nay không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Tòa án đã tiến hành các buổi hòa giải nhưng anh T1 đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung Nguyễn Cẩm T2, sinh ngày 10/4/2019 và cháu Nguyễn Trọng Hoàng T3, sinh ngày 02/02/2021. Hiện tại các cháu đang ở cùng chị T. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung. Hiện tại chị đi làm công nhân tại công ty thu nhập 8.000.000 đồng/01 tháng.

Xét thấy: Yêu cầu, nguyện vọng của chị T là chính đáng nên cần giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn anh T1 được quyền thăm nom con chung, chị T không được cản trở anh T1 thực hiện quyền này.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung, cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.4]. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Đ a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng T1.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Cẩm T2, sinh ngày 10/4/2019 và cháu Nguyễn Trọng Hoàng T3, sinh ngày 02/02/2021. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Trọng T1 được quyền thăm nom con chung, chị Nguyễn Thị T không được cản trở anh Nguyễn Trọng T1 thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 19/4/2024 theo biên lai thu số 0008191.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trọng T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Khám Lạng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giáp Thị Loan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Chỉnh

Đỗ Thị Hoài Mơ

Giáp Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T-T1 tranh chấp ly hôn, con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger